Đừng để lịch sử chỉ nằm trong sách
giáo khoa
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước - Công ty luật Phuoc & Partners)
Có lẽ rất
ít phụ huynh bất ngờ khi nghe con mình than: "Con sợ môn Sử". Cũng chẳng
ít giáo viên trăn trở khi thấy học sinh thuộc lòng từng mốc thời gian để đi
thi, nhưng chỉ vài tuần sau lại gần như quên sạch. Trong nhiều năm, Lịch sử vẫn
là một trong những môn học khiến không ít học sinh e ngại, dù lẽ ra đó phải là
môn học giúp các em hiểu mình là ai, dân tộc mình đã đi qua những gì và vì sao
đất nước này có được ngày hôm nay.
Điều đáng
suy nghĩ là cũng chính những học sinh ấy lại có thể nhớ tên các vị vua triều
Joseon của Hàn Quốc, thuộc những câu chuyện về samurai Nhật Bản hay kể vanh
vách các nhân vật trong phim cổ trang Trung Quốc. Không ai bắt các em học,
nhưng các em vẫn nhớ. Có khi nhớ còn lâu hơn cả bài kiểm tra học kỳ. Điều đó
cho thấy người trẻ không hề ghét lịch sử, các em chỉ không thích cách lịch sử
đang được kể.
Việt Nam
có hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Hiếm có dân tộc nào phải trải qua nhiều
cuộc chiến bảo vệ độc lập, nhiều biến cố lịch sử và nhiều thời kỳ huy hoàng như
chúng ta. Từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
Lê Lợi, Nguyễn Huệ cho đến các cuộc kháng chiến hiện đại, lịch sử Việt Nam là một
kho tàng gần như vô tận về lòng quả cảm, trí tuệ, khát vọng tự do và sức sống của
dân tộc.
Mỗi triều
đại đều có đủ chất liệu để trở thành một tác phẩm điện ảnh hấp dẫn: những trận
chiến nghẹt thở, những cuộc đấu trí ngoại giao, những quyết định thay đổi vận mệnh
đất nước, những mối tình bị chia cắt bởi chiến tranh, những bi kịch của người cầm
quyền và những hy sinh thầm lặng của biết bao người dân vô danh. Vậy tại sao
chúng ta vẫn chưa có nhiều bộ phim lịch sử đủ sức khiến hàng triệu khán giả háo
hức ra rạp?
Có nhiều
nguyên nhân. Trước hết là bài toán về kinh phí. Một bộ phim lịch sử đòi hỏi mức
đầu tư lớn hơn rất nhiều so với phim hiện đại. Chỉ riêng việc phục dựng thành
quách, doanh trại, tàu thuyền, vũ khí, phục trang, đạo cụ và huy động hàng
nghìn diễn viên quần chúng đã tiêu tốn ngân sách khổng lồ. Nếu cộng thêm kỹ xảo,
hậu kỳ và thời gian chuẩn bị kéo dài nhiều năm, rủi ro tài chính là yếu tố khiến
nhiều nhà đầu tư e ngại.
Nhưng tiền
không phải là nguyên nhân lớn nhất. Điều quan trọng hơn nằm ở cách kể chuyện.
Không ít bộ phim lịch sử vẫn mang tâm lý "minh họa sách giáo khoa".
Người xem có cảm giác như đang xem một bài học lịch sử được chuyển lên màn ảnh
thay vì được sống cùng nhân vật. Trong khi đó, khán giả đến rạp không phải để học
thuộc niên đại. Họ muốn được xúc động.
Lịch sử chỉ
thật sự sống khi người xem cảm nhận được nỗi lo của người lính trước giờ xuất
trận, sự giằng xé của một vị tướng khi phải hy sinh một cánh quân để cứu cả đất
nước, sự cô độc của một vị vua trước quyết định sinh tử của dân tộc hay tình
yêu dang dở của những con người sinh ra trong thời loạn. Khi nhân vật trở thành
những con người bằng xương bằng thịt thay vì những bức tượng trên bệ đá, lịch sử
sẽ tự nhiên chạm đến trái tim của khán giả.
Nhưng điện
ảnh không phải là mắt xích duy nhất. Có lẽ chúng ta cũng cần nhìn lại cách dạy
và học lịch sử trong nhà trường. Nhiều học sinh tiếp cận môn Sử bằng những
trang sách dày đặc chữ, những mốc thời gian, tên nhân vật và các sự kiện cần
ghi nhớ. Trong thời đại mà trẻ em lớn lên cùng video ngắn, đồ họa 3D, trò chơi
tương tác và trí tuệ nhân tạo, việc yêu cầu các em chủ yếu học qua văn bản là một
thách thức không nhỏ. Sách giáo khoa Lịch sử, vì vậy, cần được thiết kế lại
theo hướng trực quan, sinh động và giàu cảm xúc hơn.
Mỗi bài học
nên có nhiều hình ảnh phục dựng, bản đồ trực quan, sơ đồ tư duy, tranh minh họa,
mô hình 3D và mã QR để học sinh có thể xem ngay một đoạn phim ngắn, phim tài liệu
hoặc hoạt hình minh họa. Chỉ một video 3 đến 5 phút được đầu tư nghiêm túc đôi
khi có thể giúp học sinh hình dung rõ hơn cả chục trang sách. Quan trọng hơn, nội
dung cũng cần được viết lại theo lối kể chuyện thay vì chỉ liệt kê sự kiện. Đằng
sau mỗi chiến thắng là những con người thật, những lựa chọn khó khăn, những mất
mát và những bài học về lòng dũng cảm, trí tuệ và khát vọng hòa bình. Khi học
sinh yêu nhân vật trước, các em sẽ tự tìm hiểu các sự kiện sau đó.
Nếu sách
giáo khoa kể một câu chuyện, phim ngắn giúp học sinh hình dung câu chuyện ấy,
điện ảnh đưa câu chuyện lên màn ảnh rộng, bảo tàng giúp các em được trải nghiệm
và di tích giúp các em chạm vào lịch sử, thì Lịch sử sẽ không còn là môn học để
thi nữa mà sẽ trở thành một ký ức đẹp theo các em suốt cuộc đời.
Nhiều quốc
gia đã làm rất thành công điều này. Trung Quốc không chỉ làm phim lịch sử để
bán vé. Họ biến lịch sử thành một ngành công nghiệp văn hóa. Sau mỗi bộ phim là
truyện tranh, trò chơi điện tử, sách, chương trình truyền hình, sản phẩm lưu niệm,
tuyến du lịch và những phim trường khổng lồ như Hoành Điếm. Hàn Quốc cũng đi
theo con đường ấy. Sau các bộ phim cổ trang về triều đại Joseon, không chỉ cung
điện và di tích lịch sử được du khách tìm đến mà còn hanbok, trà đạo, ẩm thực
cung đình, kimchi, rượu truyền thống và nhiều giá trị văn hóa khác cũng được quảng
bá mạnh mẽ ra thế giới. Điện ảnh đã trở thành một trong những "đại sứ"
hiệu quả nhất của họ.
Việt Nam
hoàn toàn có thể làm điều tương tự. Một bộ phim về nhà Trần có thể kéo theo sự
quan tâm đến Bạch Đằng, Yên Tử, Thiên Trường, võ trận, áo giáp, nghề rèn, gốm,
nhạc cụ và lễ hội. Một bộ phim về Huế có thể làm sống lại áo dài, nhã nhạc, ẩm
thực cung đình, kiến trúc và các di sản. Một bộ phim về Hội An có thể đánh thức
cả một không gian văn hóa từ thương cảng, làng nghề, đèn lồng cho đến những món
ăn tưởng quen mà vẫn đủ sức làm mềm lòng du khách quốc tế.
Điều đáng
mừng là những tín hiệu tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Việc đạo diễn Victor Vũ gần
đây tham gia dòng phim lịch sử [1]và việc Vingroup công bố đầu
tư sản xuất các tác phẩm về lịch sử, văn hóa Việt Nam [2] cho thấy lịch sử đang được
nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, chứ không chỉ là chất liệu hoài niệm. Đặc
biệt, sự tham gia của một doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup có ý nghĩa vượt
ra ngoài phạm vi của một bộ phim. Khi một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính,
công nghệ, truyền thông và hệ sinh thái dịch vụ quyết định đầu tư vào lĩnh vực
này, câu chuyện không còn chỉ là làm phim, mà là khả năng hình thành một chuỗi
giá trị văn hóa.
Một bộ
phim lịch sử, nếu thành công, sẽ không chỉ dừng lại ở phòng vé. Nó có thể tiếp
tục xuất hiện trong các phim ngắn, tài liệu học đường, triển lãm, sản phẩm lưu
niệm, trò chơi điện tử, sách ảnh, podcast, tour du lịch và nhiều hoạt động truyền
thông cộng đồng khác. Cùng lúc đó, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng video ngắn
đang mở ra một cách kể lại lịch sử hoàn toàn mới. Một đoạn phim 3 phút về trận
Bạch Đằng, Chi Lăng hay cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung hôm nay có thể
tiếp cận hàng triệu người trẻ trên điện thoại trước khi họ quyết định mua vé
xem một bộ phim dài. Nếu ngày trước, lịch sử phải chờ nhiều năm để được kể lại
bằng điện ảnh, thì nay lịch sử có thể xuất hiện mỗi ngày trong nhiều định dạng
khác nhau.
Nhưng sẽ
thiếu thực tế nếu kỳ vọng doanh nghiệp tư nhân một mình gánh vác sứ mệnh ấy. Ở
nhiều nước, phim lịch sử luôn nhận được sự đồng hành mạnh mẽ của Nhà nước vì
đây không chỉ là sản phẩm giải trí mà còn là công cụ giáo dục, quảng bá hình ảnh
quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm. Lợi nhuận của một bộ phim lịch sử không chỉ
đo bằng doanh thu phòng vé mà còn bằng lượng khách du lịch, giá trị xuất khẩu
văn hóa, niềm tự hào dân tộc và sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử đất nước.
Nếu xác định
công nghiệp văn hóa là một động lực tăng trưởng mới, thì điện ảnh lịch sử cần
được nhìn nhận như một hạng mục đầu tư chiến lược. TP.HCM đang nghiên cứu một
phim trường quy mô khoảng 100-150 ha[3]. Nếu được quy hoạch bài bản
và đầu tư đúng tầm, đây hoàn toàn có thể trở thành "Hoành Điếm" của
Việt Nam". Nhưng diện tích lớn mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng
hơn là tư duy phát triển.
Phim trường
ấy không nên chỉ là nơi dựng cảnh để quay phim rồi đóng cửa. Nó cần trở thành một
tổ hợp công nghiệp văn hóa, tái hiện nhiều giai đoạn lịch sử Việt Nam, từ Văn
Lang, Âu Lạc, các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn đến các bối cảnh của các cuộc
kháng chiến thời hiện đại. Khi không có đoàn phim, nơi đây vẫn có thể mở cửa
đón khách tham quan, học sinh, sinh viên và du khách quốc tế, trở thành một điểm
đến du lịch hoạt động quanh năm. Một phim trường như vậy sẽ giúp giảm chi phí sản
xuất cho đoàn phim trong nước, thu hút hãng phim quốc tế, tạo việc làm cho lao
động sáng tạo và kích thích nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển.
Tuy nhiên,
phim trường cũng chỉ là một mắt xích. Muốn lịch sử thật sự bước vào đời sống,
Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo tàng lịch sử hiện có. Không ít bảo
tàng vẫn còn cách trưng bày truyền thống, chủ yếu là hiện vật trong tủ kính
cùng những bảng thuyết minh dài dòng. Đối với nhiều học sinh, một chuyến tham
quan bảo tàng đôi khi vẫn giống như một tiết học kéo dài hơn là một trải nghiệm
khám phá.
Trong khi
đó, bảo tàng hiện đại có thể ứng dụng thực tế ảo, thực tế tăng cường, trình chiếu
360 độ, sa bàn số, màn hình tương tác và trí tuệ nhân tạo. Một học sinh được chứng
kiến trận Bạch Đằng bằng công nghệ mô phỏng, được "đứng" trên chiến
thuyền của quân Trần hay "đi bộ" trong Hoàng thành Thăng Long bằng
kính thực tế ảo chắc chắn sẽ có ấn tượng sâu sắc hơn nhiều so với việc chỉ đọc
vài đoạn văn. Vì vậy, cùng với đầu tư cho phim trường, Nhà nước cũng nên tăng
ngân sách để từng bước nâng cấp hệ thống bảo tàng lịch sử theo hướng hiện đại, có
tính tương tác và thân thiện với giới trẻ. Mỗi bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ
hiện vật mà còn phải trở thành một "lớp học lịch sử sống", một điểm đến
văn hóa và du lịch của địa phương.
Song song
với đó là một hệ thống chính sách đủ mạnh nhưng minh bạch. Những dự án phim lịch
sử đáp ứng tiêu chí chất lượng có thể được xem xét ưu đãi về thuế, tín dụng, hạ
tầng kỹ thuật; được hỗ trợ phục dựng bối cảnh, phục trang, đạo cụ; được các nhà
sử học, chuyên gia quân sự, mỹ thuật, kiến trúc và ngôn ngữ tư vấn ngay từ giai
đoạn xây dựng kịch bản. Khâu phát hành cũng rất quan trọng. Một bộ phim lịch sử
đầu tư hàng trăm tỷ đồng sẽ rất khó thành công nếu chỉ sau vài ngày đã mất đi phần
lớn suất chiếu. Có thể nghiên cứu cơ chế phù hợp để các tác phẩm có giá trị lịch
sử và văn hóa có đủ thời gian tiếp cận khán giả, đồng thời triển khai truyền
thông trên báo chí, truyền hình, trường học và các nền tảng số, biến mỗi bộ
phim thành một sự kiện văn hóa.
Điều quan
trọng nhất là phải nhìn tất cả những yếu tố này như một chỉnh thể. Sách giáo
khoa giúp học sinh hiểu lịch sử; phim ngắn giúp các em hình dung lịch sử; điện ảnh
giúp các em yêu thích lịch sử; bảo tàng giúp các em trải nghiệm lịch sử; di
tích giúp các em chạm vào lịch sử; du lịch giúp lịch sử tạo ra giá trị kinh tế;
và công nghiệp văn hóa giúp lịch sử Việt Nam bước ra thế giới.
Chúng ta
đã đầu tư rất nhiều để xây dựng đường cao tốc, sân bay, cảng biển và các công
trình kết nối các vùng đất. Đó là nền tảng cho sự phát triển kinh tế. Có lẽ
cũng đã đến lúc đầu tư mạnh mẽ hơn để xây dựng những "cây cầu" kết nối
người Việt hôm nay với 4.000 năm lịch sử của chính dân tộc mình.
Biết đâu,
khi những đứa trẻ hôm nay lớn lên, các em sẽ không nhớ lịch sử chỉ vì đã từng học
thuộc một bài trong sách giáo khoa. Các em sẽ nhớ vì đã từng khóc trong một rạp
chiếu phim, xúc động trong một bảo tàng, tự hào khi đứng trên một di tích lịch
sử và mỉm cười khi nhìn thấy bạn bè quốc tế nhắc đến Việt Nam bằng chính những
câu chuyện mà cha ông chúng ta đã viết nên.
Và khi ấy,
câu hỏi sẽ không còn là "Làm thế nào để học sinh yêu môn Lịch sử?" Mà
sẽ là: "Sau bộ phim lịch sử tiếp theo của Việt Nam, thế giới sẽ muốn khám
phá câu chuyện nào của chúng ta?"
[1] https://tuoitre.vn/victor-vu-cong-bo-phim-chien-bao-ve-khoi-nghia-lam-son-tim-nguoi-dong-le-loi-nguyen-trai-100260625140207385.htm
[2] https://tuoitre.vn/khoi-dong-dong-phim-ton-vinh-lich-su-van-hoa-viet-20260528095559668.htm
[3] https://thanhnien.vn/tphcm-nghien-cuu-xay-phim-truong-150-ha-bao-tang-am-nhac-ung-dung-ai-185260407090903131.htm