Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Sửa một bức ảnh, nghĩ rộng hơn về cách sửa luật

 

Sửa một bức ảnh, nghĩ rộng hơn về cách sửa luật

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Vài ngày gần đây, khi Quốc hội đang thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, có một chi tiết nghe qua tưởng nhỏ nhưng lại chạm đúng vào mối quan tâm rất đời thường của nhiều người dân. Đó là đề xuất bỏ quy định người yêu cầu công chứng phải chụp ảnh cùng công chứng viên khi ký văn bản công chứng. Sáng ngày 9/4/2026, tại phiên thảo luận tổ, Chính phủ nêu hướng sửa đổi này, đồng thời có ý kiến từ đại biểu đề nghị cần cân nhắc, đánh giá và tổng kết kỹ hơn trước khi bỏ hẳn.

Thoạt nghe, đây có thể chỉ là một chi tiết kỹ thuật trong quy trình công chứng. Nhưng chính những chi tiết như vậy lại thường phản ánh khá rõ cách một chính sách đi vào đời sống và tác động đến cảm nhận của người dân về sự ổn định của pháp luật. Bởi lẽ theo Luật Công chứng 2024, từ ngày 01/7/2025, việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu vào hồ sơ công chứng. Nay quy định ấy mới được thực hiện chưa lâu thì đã được đề xuất bỏ, với lý do hiện nay công chứng viên có thể dùng thiết bị xác thực cá nhân bằng công nghệ sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hoặc ứng dụng VNeID để xác thực người yêu cầu công chứng và ngăn chặn hành vi giả mạo.

Nếu nhìn theo hướng tích cực, đây không phải là một đề xuất vô lý. Khi công nghệ xác thực đã tiến thêm một bước, việc nhà làm luật muốn cắt bớt một thao tác hành chính cho người dân là điều đáng ghi nhận. Không ai đi công chứng mà lại mong hồ sơ của mình dày lên chỉ vì thêm một thủ tục hình thức. Người dân cần sự an toàn pháp lý, nhưng họ cũng cần sự gọn gàng, dễ hiểu và ít phiền hà hơn trong mỗi giao dịch. Nếu sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hay VNeID đã thực sự làm tốt chức năng nhận diện, thì việc bỏ bớt một yêu cầu cũ rõ ràng là một hướng nên được cân nhắc nghiêm túc.



Nhưng ở chiều ngược lại, cũng cần nhìn công bằng rằng quy định chụp ảnh ban đầu không phải được đặt ra cho có. Khi Luật Công chứng 2024 được ban hành, việc yêu cầu chụp ảnh người ký trước sự chứng kiến của công chứng viên được xem như một lớp bảo đảm bổ sung, nhằm tăng tính minh bạch của quy trình và hỗ trợ hạn chế rủi ro giả mạo trong các giao dịch có giá trị pháp lý cao. Thậm chí, quy định hướng dẫn còn yêu cầu ảnh chụp phải nhận diện được người ký văn bản công chứng và công chứng viên thực hiện việc công chứng. Như vậy, mục tiêu ban đầu của quy định này là làm dày thêm lớp an toàn cho giao dịch dân sự, chứ không đơn thuần là tạo thêm việc làm cho người dân.

Chính vì thế, điều đáng bàn nhất có lẽ không phải là giữ hay bỏ một bức ảnh, mà là cách chúng ta thiết kế và điều chỉnh chính sách sao cho đủ chín chắn. Nếu việc chụp ảnh là cần thiết để phòng ngừa giả mạo, thì vì sao quy định mới, đi vào thực tế chưa đầy một năm, đã thấy cần bỏ? Còn nếu các công cụ xác thực mới đã sẵn sàng và đáng tin cậy đến mức có thể thay thế, thì lẽ ra mức độ sẵn sàng ấy nên được dự báo kỹ hơn ngay từ đầu, để tránh tình trạng xã hội vừa làm quen với một yêu cầu mới thì lại phải chuẩn bị bỏ nó đi. Sửa luật nhanh không phải lúc nào cũng xấu. Có những bất hợp lý được nhận ra sớm thì sửa sớm là tốt. Nhưng việc sửa sớm sẽ thuyết phục hơn nhiều nếu đi kèm một sự tổng kết rõ ràng về hiệu quả thực tế, chi phí tuân thủ và tính khả thi của phương án thay thế. Việc các đại biểu Quốc hội đặt vấn đề cần tổng kết, đánh giá kỹ hơn trước khi bỏ phiếu cho thấy đây không chỉ là chuyện thủ tục nhỏ, mà còn là câu chuyện về chất lượng chuẩn bị chính sách.

Từ đây lại mở ra một lớp vấn đề khác còn đáng chú ý hơn, đó là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một bức ảnh chụp người dân tại thời điểm công chứng, xét về bản chất, không chỉ là một thao tác nghiệp vụ mà còn là việc thu thập dữ liệu cá nhân dưới dạng hình ảnh. Trong khi đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 đã được thông qua ngày 26/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Nói cách khác, ở thời điểm hiện nay, mọi yêu cầu buộc người dân cung cấp thêm dữ liệu nhận diện của mình cho một quy trình hành chính đều cần được soi kỹ hơn dưới góc độ quyền riêng tư, tính cần thiết và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu.

Vì vậy, khi một quy định yêu cầu chụp ảnh người dân trong lúc công chứng, câu hỏi không chỉ là có chụp hay không mà còn là ảnh đó được lưu ở đâu, ai được quyền tiếp cận, được giữ trong bao lâu, dùng đúng cho mục đích nào, có thể bị sử dụng lại ngoài mục đích công chứng hay không, và nếu xảy ra rò rỉ hoặc sử dụng sai thì trách nhiệm thuộc về ai. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đặt ra trách nhiệm đối với bên kiểm soát và bên xử lý dữ liệu, trong đó có nghĩa vụ thông báo vi phạm trong thời hạn 72 giờ khi có sự cố đủ mức độ, cũng như trách nhiệm quản lý, phối hợp xử lý và khắc phục hậu quả. Những quy định này cho thấy việc thu thập thêm dữ liệu không còn là chuyện “cứ thu rồi tính sau”, mà phải đi kèm với năng lực bảo vệ tương xứng.

Nói vậy không có nghĩa là cứ đụng tới dữ liệu cá nhân là phải loại bỏ ngay mọi biện pháp xác thực bằng hình ảnh. Có những trường hợp việc lưu dấu hình ảnh có thể thật sự hữu ích cho việc phòng ngừa tranh chấp hoặc xác minh quá trình ký kết. Nhưng trong thời đại dữ liệu có giá trị ngày càng lớn, nguyên tắc hợp lý hơn có lẽ là chỉ thu thập khi thật sự cần thiết, thu đến đâu thì giải trình đến đó, và bảo vệ đến nơi đến chốn. Một bức ảnh trong hồ sơ công chứng thoạt nhìn có vẻ rất bình thường, nhưng nếu quy trình lưu trữ, phân quyền truy cập và bảo mật không chặt chẽ, thì chính biện pháp được thiết kế để tăng an toàn hôm nay lại có thể mở thêm một cánh cửa rủi ro cho ngày mai. Nhìn ở góc độ này, đề xuất bỏ quy định chụp ảnh không chỉ là chuyện cắt một thủ tục, mà còn có thể là dịp để nhìn lại sâu hơn về cách cơ quan công quyền cân nhắc giữa nhu cầu quản lý và quyền đối với dữ liệu cá nhân của công dân.

Có lẽ vì vậy mà câu chuyện lần này dễ gợi cho nhiều người nhớ lại những lần thay đổi liên tiếp trước đây về giấy tờ tùy thân. Từ chứng minh nhân dân đến căn cước công dân, rồi đến thẻ căn cước, mỗi lần điều chỉnh đều có lý lẽ quản lý riêng. Nhưng đứng từ góc độ người dân, điều họ mong mỏi nhất vẫn là sự ổn định, dễ hiểu và đủ bền, ít tốn thời gian và tiền bạc để họ không phải liên tục chạy theo những phiên bản mới của cùng một thủ tục. Chuyện công chứng lần này tuy là một mảnh ghép nhỏ, nhưng lại chạm tới chính nhu cầu đó, tức là khi đã thêm một yêu cầu cho dân thì nên cân nhắc thật kỹ; khi muốn bỏ nó đi thì cũng cần giải thích thật rõ. Có như vậy, cải cách mới tạo cảm giác hệ thống đang tiến về phía hợp lý hơn, chứ không chỉ là đổi cách làm rồi sau đó lại đổi tiếp.

Xét cho cùng, mục tiêu chắc chắn là không có gì khác nhau. Ai cũng muốn hoạt động công chứng vừa an toàn, vừa thuận tiện, vừa phù hợp với điều kiện số hóa, vừa tôn trọng dữ liệu cá nhân của người dân. Công nghệ mới nên được sử dụng để giải phóng người dân khỏi những thao tác không cần thiết, chứ không phải chỉ thay một lớp hình thức này bằng một lớp hình thức khác nghe hiện đại hơn. Và có lẽ câu hỏi nên để ngỏ không chỉ là có nên giữ hay bỏ một tấm ảnh trong hồ sơ công chứng, mà là làm sao để mỗi lần sửa luật sau này đều khiến người dân cảm thấy yên tâm hơn rằng hệ thống đang dần ổn định, thận trọng và tôn trọng quyền của họ hơn, thay vì chỉ khéo léo đổi một thủ tục cũ lấy một cách quản lý mới.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Khi hoa bị ép phải gánh quá nhiều nhiệm vụ

 

Khi hoa bị ép phải gánh quá nhiều nhiệm vụ

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Tôi không ghét hoa. Ngược lại, tôi luôn nghĩ hoa là một trong những phát minh dịu dàng nhất của cuộc đời. Một bó hoa nhỏ có thể làm sáng một căn phòng. Một cành hoa đặt đúng chỗ có thể thay cho nhiều lời muốn nói. Hoa có khả năng đi vào những khoảnh khắc rất khác nhau của con người, từ niềm vui đến nỗi buồn, từ khởi đầu đến kết thúc. Nhưng cũng vì thế, tôi ngày càng thấy tiếc khi hoa đang bị kéo vào quá nhiều cuộc trình diễn xã hội, đến mức dần mất đi sự tinh tế vốn có.



Bây giờ, đi dự sinh nhật, khai trương, hội nghị, lễ kỷ niệm hay một đám tang, rất dễ gặp cảnh hoa xuất hiện dày đặc. Sinh nhật, khai trương, kỷ niệm thành lập, lên chức, ra mắt sách, hội thảo, đám tang đều phải có hoa. Có những nơi hoa nhiều đến mức người ta phải xếp tràn ra cả lối đi, hành lang, sân trước, vỉa hè. Người đến sau không biết nhìn chủ nhân ở đâu vì trước mặt toàn là những tầng hoa, kệ hoa, vòng hoa, cổng hoa, phông hoa. Có cảm giác như trong nhiều dịp, hoa không còn là điểm nhấn mà trở thành một thứ phải có, càng nhiều càng tốt, càng lớn càng đẹp, càng đắt càng chứng minh được mức độ quan tâm. Đó chính là lúc hoa bắt đầu mất giá.

Một món quà thường đẹp vì nó có chừng mực. Cái đẹp của hoa vốn nằm ở sự vừa phải, ở độ mong manh, ở chỗ gợi cảm xúc chứ không đè cảm xúc xuống. Nhưng khi hoa bị chất lên thành từng lớp, từng tầng, bị buộc đại diện cho vị thế, sĩ diện, mạng lưới quan hệ, năng lực chi trả, thì hoa không còn là hoa nữa mà trở thành một đạo cụ của xã giao.

Trong nhiều dịp, người gửi hoa không thật sự cân nhắc người nhận thích gì, cần gì, hay có phù hợp không. Họ chỉ biết rằng, trong hoàn cảnh này thì “phải gửi hoa”. Một lẵng lớn hay một kệ cao không còn phản ánh gu thẩm mỹ hay sự tinh tế của người gửi, mà phản ánh một nỗi lo rất đời thường: sợ mình gửi ít quá thì bị xem là không đủ nhiệt tình, sợ không có tên mình thì bị cho là sơ suất, sợ người khác gửi to hơn thì mình thành mờ nhạt. Khi tâm lý ấy lan rộng, việc tặng hoa không còn xuất phát từ cảm xúc mà từ áp lực. Mà áp lực thì thường không sinh ra cái đẹp mà tạo ra thói quen làm cho xong.

Sự lãng phí nằm ở chỗ ai cũng thấy nhưng ít ai muốn nói. Người nhận nhiều khi ngại vì họ biết số hoa ấy sẽ không để được lâu và sẽ bị tháo dỡ rồi dọn đi. Nhưng họ phải mỉm cười chụp ảnh, sắp xếp chỗ ngồi, tỏ ra trân trọng vì đó là tình cảm của người khác. Người gửi cũng không phải không hiểu rằng hoa rất ngắn ngày; họ biết món quà này phần nhiều chỉ để xuất hiện một lúc rồi biến mất. Nhưng vì thông lệ xã hội, họ cứ tiếp tục. Thế là mọi người cùng tham gia vào một nghi thức mà trong lòng không hẳn ai cũng tin là hợp lý.

Có những cảnh rất đáng suy nghĩ. Một buổi khai trương văn phòng hay cửa hàng buổi sáng còn ngập tràn những kệ hoa rực rỡ, lời chúc treo đỏ cả một mặt tiền. Đến chiều, nhân viên bắt đầu kéo bớt ra ngoài vì lối đi chật. Tối đến, nhiều bó hoa gục đầu xuống, giấy gói nhàu đi, nơ rũ ra, nước từ xốp cắm hoa nhỏ xuống sàn. Hôm sau, người ta tháo khung sắt, bóc bảng tên, gom những hoa đã héo lại thành một đống. Từ biểu tượng chúc mừng, hoa rất nhanh trở thành vật cản rồi thành rác. Nếu nhìn kỹ cảnh ấy, sẽ thấy sự phù phiếm của nó khá lạnh lùng. Một vật vốn tượng trưng cho vẻ đẹp và sự sống lại được đối xử như món hàng tiêu dùng dùng một lần, giá càng cao thì khoảnh khắc tiếc nuối khi vứt đi càng lớn.

Ở đám tang, cảm giác ấy còn buồn hơn. Hoa vốn là biểu tượng của sự tưởng niệm. Một vòng hoa giản dị, màu sắc nhã nhặn, cách hiện diện vừa đủ có thể nói thay cho nhiều điều. Nhưng khi đám tang biến thành nơi tập kết hàng chục, hàng trăm vòng hoa, ý nghĩa an ủi bắt đầu mỏng dần. Gia đình người mất đang rối bời tinh thần, lại phải lo thêm việc xếp hoa, lối đi, dựng và dọn dẹp. Nỗi buồn chưa kịp lắng xuống thì phải xử lý hậu quả. Nhiều vòng hoa đến đó không phải vì mối liên hệ sâu đậm với người đã khuất, mà vì phép xã giao của cơ quan, tổ chức, quan hệ làm ăn. Không phải là không thành ý, nhưng thành ý đã bị pha loãng trong một nghi thức tập thể quá nặng về hình thức.

Có người bảo rằng đừng quá khắt khe, vì hoa là một phần của văn hóa ứng xử. Điều đó đúng vì không ai phủ nhận rằng hoa có vị trí quan trọng trong đời sống. Cũng không ai nên cực đoan đến mức đòi loại bỏ hoa khỏi những dịp vui buồn. Vấn đề không phải là có nên tặng hoa hay không, mà là chúng ta đang dùng hoa đến mức nào, theo cách nào và vì động cơ gì. Một bó hoa nhỏ nhưng được chọn kỹ vẫn có giá trị hơn một kệ hoa khổng lồ được đặt vội cho đủ thủ tục. Một chậu cây sống lâu có thể tồn tại lâu hơn sau sự kiện, đôi khi có ý nghĩa hơn cả một mảng tường hoa sẽ héo sau 1 ngày. Một lời chia buồn chân thành, một khoản tiền phúng viếng kín đáo, một sự có mặt đúng lúc nhiều khi an ủi hơn cả chục vòng hoa dựng đầy lối.

Nhưng xã hội càng hiện đại thì dường như hoa càng bị đẩy sang hướng phô trương. Chúng ta không chỉ thích nhiều hoa mà còn thích hoa thật đắt. Không ít người bây giờ vẫn sính hoa ngoại nhập; càng quý hiếm, càng không đụng hàng thì càng sang. Có những lẵng hoa trị giá bằng cả tháng lương của một nhân viên văn phòng, nhưng tuổi thọ của chúng chỉ tính bằng ngày. Cái buồn cười là nhiều người trân trọng nó chủ yếu vì nó đắt, vì nó ngoại, vì nó chứng minh người gửi “chịu chơi”, chứ không hẳn vì nó đẹp hay giàu cảm xúc hơn.

Sính hoa ngoại còn cho thấy một lớp tâm lý khác. Đó là nhu cầu tiêu dùng mang tính biểu tượng nhằm khẳng định đẳng cấp. Khi một loài hoa trong nước không còn đủ để gây ấn tượng, người ta tìm đến hoa nhập khẩu. Khi một bó hoa phổ biến không còn thể hiện được mức độ đầu tư, người ta săn những loại khó kiếm hơn, đắt hơn, bay xa hơn. Hoa lúc đó không còn là sứ giả của cảm xúc mà trở thành tấm biển nhỏ treo lên để nói về túi tiền và vị thế của người mua. Cái đẹp bị trượt sang một cuộc đua khác, nơi giá cả bắt đầu lấn át ý nghĩa. Và điều đáng nói là trong một đất nước còn rất nhiều nhu cầu thiết thực chưa được đáp ứng tốt, việc xã hội quen tay chi những khoản lớn cho những cấu trúc hoa ngắn ngày không thể không khiến người ta chạnh lòng.

Bên dưới những lẵng hoa rực rỡ ấy là cả một chuỗi tài nguyên bị tiêu hao. Đó là đất trồng, nước tưới, phân bón, điện bảo quản lạnh, xăng dầu vận chuyển, vật liệu đóng gói, khung sắt, xốp cắm hoa, dây buộc, nilon, giấy bọc, nhân công cắt cành, phối màu, thiết kế, giao nhận. Với hoa nhập còn có thêm chi phí hậu cần, bảo quản, vận chuyển đường dài, đôi khi bằng máy bay. Tất cả chỉ để đổi lấy sự hiện diện rất ngắn. Khi việc này diễn ra với quy mô lớn, lặp đi lặp lại qua vô số sự kiện, thì đây không còn là sở thích cá nhân nữa mà là một thói quen tiêu dùng đáng suy nghĩ.

Tất nhiên, phải nói rằng ngành hoa cũng tạo ra sinh kế cho nhiều người. Người trồng hoa, người cắm hoa, người vận chuyển, người bán lẻ đều sống nhờ thị trường ấy. Nhưng lập luận này không thể dùng để biện minh cho mọi mức độ lãng phí. Một nền kinh tế khỏe mạnh không nên dựa vào việc khuyến khích xã hội tiêu hao vô tội vạ những thứ chỉ dùng được trong thời gian ngắn và ít giá trị sử dụng dài hạn. Việc bảo vệ sinh kế cho người làm nghề không nhất thiết đồng nghĩa với việc tiếp tục cổ vũ cho những nghi thức hoa ngày càng quá tay. Một thị trường hoa lành mạnh hơn có thể đi theo hướng tinh tế , bền vững và ít khoa trương hơn, thay vì cứ phình ra về kích thước và giá tiền.

Có lẽ điều đáng lo nhất không phải là số tiền bỏ ra, mà là sự chai lì trong cảm xúc. Khi cái gì cũng tặng hoa, hoa dần không còn nói được điều gì riêng. Sinh nhật, khai trương, đám tang  hay hội nghị nào cũng có hoa; cuối cùng, người ta chỉ còn nhìn hoa như một phần của phông nền. Một thứ từng rất đẹp và giàu tính biểu tượng lại bị dùng quá nhiều đến mức mòn nghĩa. Đó là kiểu mất mát âm thầm. Xã hội càng giàu hơn chưa chắc đã tinh tế hơn, nếu cái gì cũng phải phóng to lên mới thấy mình đủ thành ý.

Thay đổi chuyện này không dễ, vì nó nằm trong vùng rất nhạy cảm của quan hệ xã hội. Người ta sợ bị cho là keo kiệt, sợ bị nói là làm mất vui, sợ bị hiểu lầm là không coi trọng đối tác hay bạn bè. Nhưng chính vì ai cũng sợ nên vòng quay ấy mới kéo dài. Chúng ta đang cùng tuân theo một luật lệ bất thành văn mà nhiều người đã thấy mệt mỏi. Có lẽ đến lúc một số người bắt đầu nói ra một cách lịch sự. Sinh nhật, có thể ghi rõ xin nhận lời chúc thay hoa. Khai trương, có thể đề nghị bạn bè hạn chế kệ hoa lớn. Đám tang có thể xin miễn vòng hoa, chỉ nhận tưởng niệm trang nhã. Một khi ngày càng nhiều người làm thế, xã hội sẽ dần điều chỉnh. Điều được điều chỉnh ở đây không chỉ là chi tiêu mà còn là cách hiểu về sự trân trọng.

Một xã hội văn minh không đo thành ý bằng chiều cao của kệ hoa, không đo nỗi buồn bằng số vòng hoa dựng kín sân, không đo mức độ thân tình bằng giá của một giống hoa ngoại được bay nửa vòng Trái Đất về rồi héo trong 2 ngày. Xã hội ấy sẽ biết dành chỗ cho cái đẹp, nhưng không ép cái đẹp phải gánh thay sĩ diện. Xã hội ấy sẽ hiểu rằng sự tinh tế đôi khi nằm ở chỗ bớt đi chứ không phải thêm vào.

Tôi vẫn tin hoa xứng đáng được đối xử tốt hơn. Hoa không nên bị kéo vào mọi dịp chỉ để làm đủ thủ tục. Hoa càng không nên bị biến thành công cụ cho một cuộc đua ngầm về độ chịu chi vì một bó hoa đúng lúc vẫn là một niềm vui, một vòng hoa vừa phải vẫn là một lời tiễn biệt đẹp. Nhưng có lẽ chúng ta nên dừng lại trước khi biến hoa thành thứ bị tiêu dùng đến mức mất đi thiêng, mất đi quý, mất cả lý do để hiện diện.

Rốt cuộc, trong những dịp quan trọng của đời người, thứ ở lại lâu hơn chính là màu sắc của lẵng hoa hay cảm giác mình đã được đối xử chân thành? Câu hỏi ấy tưởng nhỏ mà không hề nhỏ. Vì nếu trả lời nghiêm túc, có thể chúng ta sẽ phải thay đổi không chỉ cách tặng hoa mà còn cách chúng ta đối xử với những biểu tượng đẹp trong đời sống. Biết đâu, khi hoa xuất hiện ít hơn, nó lại được yêu hơn, được nhớ hơn và được tôn trọng đúng như điều mà nó vốn xứng đáng.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn

  Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn   (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners) Chấm dứt hợp đồ...