Đừng cứu doanh nghiệp bằng một cái phao
thuế
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty
luật Phuoc & Partners)
Khi khách
vắng, tiền thuê mặt bằng tăng, đơn hàng chậm lại, người chủ quán ăn, tiệm tạp
hóa, cửa hàng online hay xưởng gia đình thường không nghĩ đến những khái niệm lớn
như năng suất, thể chế hay chi phí tuân thủ. Họ nghĩ đến một điều rất cụ thể:
cuối tháng này còn bao nhiêu tiền để xoay xở. Bởi vậy, mỗi khi nói đến việc hỗ
trợ doanh nghiệp, nhất là hộ kinh doanh cá thể, đề xuất miễn thuế, giảm thuế
luôn xuất hiện rất nhanh. Nó dễ nghe, dễ đồng cảm, lại tạo cảm giác Nhà nước
đang giúp đúng chỗ ngứa. Trong ngắn hạn, phản xạ ấy không sai. Nhưng nếu dùng
quá nhiều, miễn giảm thuế sẽ biến từ liều thuốc giảm đau thành thói quen chính
sách, và khi đó tác dụng phụ bắt đầu nhiều hơn tác dụng chính.
Cần nói
cho công bằng là không phải mọi miễn giảm thuế đều xấu. Một ngưỡng không thu
thuế cho hộ kinh doanh rất nhỏ có thể hợp lý nếu chi phí quản lý lớn hơn số
thu. Một giai đoạn giãn, hoãn, giảm thuế sau đại dịch, thiên tai hay cú sốc
kinh tế cũng có thể cần thiết. Một số ưu đãi hẹp cho nghiên cứu, phát triển hay
đổi mới sáng tạo cũng có lý do kinh tế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ khác. Khi miễn
giảm thuế trở thành câu trả lời quen thuộc cho mọi khó khăn, nó bắt đầu làm mỏng
nguồn thu ngân sách, làm méo cạnh tranh và tạo động lực để người kinh doanh tối
ưu trạng thái nhỏ thay vì tối ưu năng lực thực.
Diễn biến
mới nhất cho thấy đây không còn là giả định. Ngày 24-4-2026, Quốc hội đã thông
qua luật sửa đổi một số luật thuế theo hướng bỏ ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm
khỏi luật và giao Chính phủ quy định mức doanh thu không phải nộp thuế tùy theo
bối cảnh kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách. Tại phiên giải trình,
Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết định hướng ban đầu là nâng ngưỡng đó lên 1 tỉ đồng/năm.
Về trước mắt, cách làm này có lợi. Nhiều hộ kinh doanh nhỏ sẽ bớt áp lực thuế,
bớt nỗi lo giấy tờ và có thêm không gian để thở. Nhưng mặt trái cũng hiện ra rất
rõ. Khi ngưỡng được kéo lên, vùng an toàn giữa kinh doanh phi chính thức và
kinh doanh chính thức cũng mở rộng. Người ta sẽ bắt đầu tính quanh cái ngưỡng ấy,
làm sao đừng vượt, hoặc nếu có vượt thì làm sao chia bớt đi cho vừa đẹp.
Đó là lúc
chính sách tạo ra những hành vi mà chính nó không muốn. Một hộ có thể được tách
thành 2 hộ. Một cửa hàng có thể để người thân đứng tên thêm một mã số khác.
Dòng tiền có thể được chia nhỏ. Doanh thu thực tế và doanh thu khai báo bắt đầu
đi theo hai con đường khác nhau. Nói đơn giản, khi pháp luật vẽ một đường ranh
quá đậm, thị trường sẽ học cách đi sát mép đường đó. Cái bẫy nằm ở chỗ ban đầu
Nhà nước chỉ muốn đỡ cho người nhỏ, nhưng sau đó sự nhỏ bé lại biến thành một lợi
thế cần giữ càng lâu càng tốt.
Câu chuyện
còn rõ hơn ở khu vực doanh nghiệp. Thuế suất phổ thông của thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện là 20%, nhưng luật cũng có các mức thấp hơn cho doanh nghiệp trong
các dải doanh thu thấp hơn. Ý định ban đầu rất hợp lý: giúp doanh nghiệp nhỏ có
thêm sức mạnh để phát triển. Nhưng mặt trái là càng nhiều ưu đãi theo quy mô,
theo tuổi đời doanh nghiệp hay theo nhãn ngành nghề, càng nhiều động cơ để người
ta sắp xếp pháp nhân cho vừa khuôn ưu đãi. Một chuỗi cửa hàng có thể được chia
thành nhiều công ty nhỏ. Một doanh nghiệp sắp hết thời gian ưu đãi có thể đóng cửa
để người liên quan mở một doanh nghiệp mới. Trên giấy tờ, nền kinh tế có thêm
doanh nghiệp mới được thành lập. Trong thực tế, có khi vẫn là cùng ông chủ,
cùng mặt bằng, cùng dòng tiền, cùng nhân sự, chỉ thay cái bảng tên ngoài cửa.
Tác hại của
chuyện này không chỉ là thất thu thuế. Nó còn làm bẩn các thống kê. Số doanh
nghiệp mới tăng chưa chắc có nghĩa là năng lực sản xuất mới tăng. Số doanh nghiệp
giải thể tăng chưa chắc phản ánh sự thất bại thực sự. Tốc độ chuyển đổi từ hộ
kinh doanh lên doanh nghiệp, quy mô bình quân hay năng suất của khu vực tư nhân
đều có thể bị nhiễu bởi những thay đổi pháp lý như vậy. Khi dữ liệu đã mờ,
chính sách rất dễ đi sai thêm một vòng nữa. Nhà nước thấy nhiều doanh nghiệp nhỏ
nên lại ưu đãi thêm cho các doanh nghiệp nhỏ. Thấy khu vực hộ chưa chịu lớn thì
lại nới vùng miễn giảm. Cái vòng ấy có thể tự nuôi chính nó bằng những con số đẹp
nhưng không thật.
Tất nhiên,
không thể vì vậy mà kết luận rằng Việt Nam không nên có bất kỳ ưu đãi nào. Những
lĩnh vực như công nghệ số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo hay tăng
trưởng xanh đều có thể cần những cú hích chính sách nhất định. Nhưng vấn đề là
hỗ trợ bằng cách nào. Nếu ưu đãi gắn với nghiên cứu thật, đầu tư thật, nhân lực
thật, sáng chế thật và kết quả thật, thì đó có thể là khoản đầu tư gián tiếp
cho tương lai. Nhưng nếu ưu đãi chỉ cần một bộ hồ sơ đẹp, một nhãn ngành nghề hợp
thời hay một cái mác sáng tạo đủ rộng, thì thuế sẽ trở thành phần thưởng cho kỹ
năng điền đơn chứ không phải cho đổi mới.
Ở đây còn
có một lớp ràng buộc khác mà Việt Nam không thể xem nhẹ. Trong hệ thống WTO, việc
Nhà nước bỏ qua khoản thu đáng lẽ phải thu có thể bị xem là một dạng hỗ trợ tài
chính tạo ra lợi ích. WTO không cấm mọi trợ cấp, nhưng cấm rõ các trợ cấp gắn với
thành tích xuất khẩu hoặc việc sử dụng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu.
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã cam kết loại bỏ các loại trợ cấp bị cấm. Nói
cách khác, Việt Nam không còn xây dựng chính sách thuế trong một căn phòng kín.
Mỗi ưu đãi lớn đều phải tính đến không chỉ mục tiêu trong nước mà còn cách nó
được nhìn dưới lăng kính cạnh tranh và thương mại quốc tế.
Vì vậy,
nói rằng không nên hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trong bất kỳ hoàn cảnh nào là
quá cực đoan. Nhưng nói rằng muốn miễn giảm thế nào cũng được thì lại quá ngây
thơ. Câu hỏi đúng không phải là có miễn hay không, mà là miễn cái gì, miễn cho
ai, trong bao lâu, theo tiêu chí nào, và hiệu quả sau đó được đo lường như thế
nào. Một ưu đãi hẹp, có thời hạn, có điều kiện và có hậu kiểm khác rất xa với một
chiếc võng chính sách quá rộng, khiến ngày càng nhiều người tìm cách nằm yên
trong đó.
Vấn đề lớn
hơn không nằm ở con số 500 triệu hay 1 tỉ đồng. Vấn đề nằm ở triết lý đứng sau
con số ấy. Nếu ngưỡng miễn thuế chỉ là công cụ chuyển tiếp để giúp hộ kinh
doanh bước dần vào khu vực chính thức, thì có thể hiểu được. Nhưng nếu vùng miễn
giảm ngày càng trở thành nơi đáng ở lại, thì sự nhỏ bé sẽ trở thành một lợi thế.
Và khi sự nhỏ bé trở thành lợi thế, tăng trưởng tự nhiên lại trở thành bất lợi.
Một nền kinh tế không thể mạnh lên nếu quá nhiều người kinh doanh phải tự nhủ rằng
thôi, đừng lớn thêm nữa.
Vậy nên hỗ
trợ bằng gì nếu không phải là miễn giảm thuế. Câu trả lời có lẽ ít hào hứng hơn
nhưng lành mạnh hơn. Hãy giảm chi phí tuân thủ trước khi giảm nghĩa vụ. Hãy giúp
hóa đơn điện tử dễ sử dụng hơn, khai thuế đơn giản hơn, phần mềm kế toán rẻ
hơn, và hướng dẫn dễ hiểu hơn. Hãy hỗ trợ tín dụng có mục tiêu, gắn với dự án thực
tế và kết quả thực tế. Hãy đầu tư vào dữ liệu công, đào tạo quản trị, kỹ năng số,
năng lực pháp lý và hạ tầng thanh toán. Hãy dùng nguồn lực công để giúp người
kinh doanh mạnh lên, chứ không chỉ giúp họ nhẹ đi một lúc.
Một chính
sách thuế trưởng thành cần rõ ràng, nhẹ nhàng và công bằng. Rõ ràng để người
kinh doanh biết mình cần làm gì. Nhẹ để chi phí tuân thủ không nuốt mất lợi nhuận.
Công bằng để người làm đúng không thua người lách, và Nhà nước không đổi nguồn
thu dài hạn lấy vài tràng pháo tay ngắn hạn. Miễn giảm thuế, nếu có, nên là cái
phao lúc nước lớn. Nhưng không ai đóng một con tàu bằng phao.
Câu hỏi vì
thế không phải là có nên mở hộ kinh doanh hay không. Tất nhiên là có vì họ là một
phần rất sống động của nền kinh tế Việt Nam. Câu hỏi khó hơn là ta thương họ bằng
cách nào. Bằng cách để họ không phải lớn lên mãi trong vùng không phải lớn lên,
hay bằng cách làm cho con đường chính thức đủ dễ đi, đủ rẻ, đủ an toàn để một hộ
bán hàng hôm nay có thể trở thành một doanh nghiệp tử tế ngày mai.
Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.