Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: khi quá khứ bị gọi tên thêm một lần

 

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: khi quá khứ bị gọi tên thêm một lần

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Ly hôn nhiều khi không ồn ào mà giống như vết cắt nhỏ nhưng sâu và chỉ người trong cuộc mới biết đau. Có người chọn im lặng, không phải vì yếu đuối hay sợ bị đánh giá, mà vì họ muốn tự giữ lấy phẩm giá của mình. Họ gom những mảnh vỡ của cuộc hôn nhân, gói thật chặt, tự dặn lòng, xem như một chương đã khép. Mỗi sáng dậy, họ cố sống tử tế hơn hôm qua, làm việc, nuôi con, học cách đứng một mình, học cách tin lại người khác, và quan trọng nhất là học cách không để chuyện cũ định nghĩa con người mới. Có những thứ tưởng đã nằm yên trong đáy mồ ký ức, không cần ai nhắc hay thương hại, chỉ cần được yên lặng để tự lành.

Nhưng một ngày, chỉ vì một tờ giấy, quá khứ bỗng hiện về. Tờ giấy ấy nghe rất hiền và vô tư: giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Với người chưa từng đi qua đổ vỡ, đó chỉ là thủ tục. Với người đã ly hôn, đó có thể là chiếc chìa khóa mở lại căn phòng đã khóa rất lâu. Điều làm người ta khó chịu không phải vì thủ tục, vì Nhà nước cần công cụ để quản lý tình trạng hôn nhân nhằm ngăn chặn kết hôn trái quy định và bảo đảm trật tự pháp lý. Điều làm người ta nhói lại là cách thủ tục này đôi khi buộc họ phải đem một phần đời riêng tư ra ánh sáng, không phải để kể mà để chứng minh, không phải để giải thích mà để được công nhận họ đã thật sự bước qua.



Trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được mô tả khá thông thoáng. Thời hạn giải quyết thường là 03 ngày làm việc; nếu phải xác minh thì không quá 23 ngày. Thủ tục cũng được ghi là đủ điều kiện thực hiện trực tuyến hoàn toàn. Những dòng chữ ấy tạo cảm giác yên tâm: thời đại dữ liệu rồi, chắc mọi thứ sẽ gọn, ít phải gặp người, ít phải trình bày, ít phải chạm lại chuyện cũ. Người dân có quyền tin rằng giữa một xã hội đang nói nhiều về chuyển đổi số, những câu chuyện nhạy cảm nhất của đời sống riêng tư sẽ được xử lý bằng cơ chế kín đáo hơn, ít xâm lấn hơn, và ít gây tổn thương hơn.

Một khách hàng của tôi cũng tin như vậy, cho đến khi anh ấy phải làm thủ tục này. Anh đã ly hôn vài năm, cuộc sống đã ổn định, không hẳn vì quên được hết, mà vì anh phải học cách sống tiếp. Anh không kể ly hôn như một chiến thắng, cũng không dùng nó làm lý do trách đời. Anh chỉ muốn được bình thường, đơn giản chỉ là làm thủ tục giấy tờ mà không phải kéo cả một đoạn đời ra công chúng. Anh đăng nhập cổng dịch vụ công, điền thông tin, chọn mục đích sử dụng, tải lên giấy tờ, rồi đến đoạn phải đính kèm hồ sơ chứng minh ly hôn. Tự nhiên anh dừng lại rất lâu, không vì thao tác khó, mà vì cảm giác như đang mở lại một chiếc hộp đã niêm phong. Bản án, quyết định, những dòng chữ khô lạnh, những ngày tháng không muốn đọc lại. Có những trang giấy chứa đủ thứ người ly hôn muốn giữ kín nhất như chuyện mâu thuẫn, con cái, tài sản, nghĩa vụ, những câu chữ mà chính người trong cuộc cũng không muốn nhìn lại. Mà hệ thống lại yêu cầu bản chụp phải rõ ràng, đầy đủ, toàn vẹn nội dung, tức không thể che bớt, không thể tối giản theo kiểu chỉ giữ lại phần kết luận pháp lý. Thế là thứ anh muốn chôn nhất lại được yêu cầu phải rõ nhất, như trớ trêu mà ai đã từng đi qua mới hiểu.

Câu chuyện trở nên nhạy cảm không phải ở thao tác tải tệp, mà ở hành trình của thông tin sau đó. Nếu người xin giấy từng cư trú nhiều nơi, cổng dịch vụ công mô tả rằng cơ quan hộ tịch sẽ tra cứu tình trạng hôn nhân qua hệ thống kết nối cơ sở dữ liệu; nếu không tra cứu được thì yêu cầu nộp hoặc xuất trình giấy tờ liên quan để chứng minh. Đây là quy trình hợp lý về quản trị: dữ liệu có thì tra, thiếu thì bổ sung, sai thì xác minh. Nhưng dưới góc nhìn của người đã ly hôn, chữ tra cứu và xác minh đôi khi đồng nghĩa với một hành trình di chuyển của thông tin nhạy cảm, và mỗi lần như thế là mỗi lần quyền riêng tư bị bào mòn. Không nhất thiết phải có ai cố tình mới thành tổn thương; đôi khi chỉ cần dữ liệu đi qua quá nhiều điểm chạm là người trong cuộc đã thấy mình bị đặt dưới ánh đèn.

Anh kể về một khoảnh khắc mà tôi luôn xem là cao trào của câu chuyện này, vì nó chạm đúng vào cảm giác con người hơn là vào câu chữ pháp luật. Anh bước vào nơi tiếp nhận hồ sơ, đông vừa đủ để không ai có thể nói chuyện riêng tư mà không bị nghe thấy. Anh đặt tập giấy tờ lên quầy, phía sau có vài người đứng chờ. Bên cạnh có tiếng máy in chạy, có tiếng gọi tên, có những câu hỏi nghiệp vụ mà người hỏi nghĩ rất bình thường, nhưng người nghe lại thấy nhói như đã ly hôn rồi hả, bản án đâu, bản nào mới nhất, trước đây cư trú ở đâu, có ghi chú ly hôn chưa. Không ai xúc phạm, không ai trêu hay cố tình làm anh xấu hổ. Nhưng chính sự vô tình đó mới đáng sợ, vì nó giống như cánh cửa mở hé, gió lùa vào, và những điều anh muốn che chắn nhất bỗng bị hất tung. Anh nghe thấy chữ ly hôn đi qua miệng người lạ, rơi xuống nền gạch như một thông tin hành chính, trong khi với anh đó là một đoạn đời. Anh nhìn thấy giấy tờ của mình nằm trên bàn lâu hơn cần thiết, đủ để một cái liếc vô tình trở thành một lần lộ ra. Và trong khoảnh khắc đó, anh thấy mình không còn là con người đang cố sống tiếp, mà là bộ hồ sơ có vết nứt đang bị soi dưới ánh đèn trắng.

Ở góc độ pháp lý, Nhà nước cần công cụ quản lý là điều dễ hiểu. Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; và nếu người yêu cầu đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng và sẽ không có giá trị nếu sử dụng sai mục đích ghi trong giấy. Tư duy quản trị là rõ đó là tránh gian dối, bảo đảm tính chính xác của hộ tịch, hạn chế việc dùng một tờ giấy cho nhiều mục đích. Nhưng quản trị đúng không có nghĩa là trải nghiệm phải tổn thương, bởi mục tiêu của cơ quan Nhà nước là xác nhận trạng thái pháp lý hiện tại, chứ không phải đọc lại câu chuyện đổ vỡ.

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân vì thế không chỉ là chuyện kết hôn. Nó xuất hiện trong nhiều thủ tục và giao dịch, nơi người ta cần biết một người đang độc thân hay không để xác định điều kiện hoặc thẩm quyền. Có những thủ tục hành chính mà hồ sơ cần văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân để xác định hoàn cảnh gia đình, như thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trong nước trên cổng dịch vụ công nêu thành phần hồ sơ liên quan đến xác nhận tình trạng hôn nhân, và đáng chú ý là cơ quan giải quyết có thể tra cứu tình trạng hôn nhân của người nhận con nuôi qua hệ thống kết nối dữ liệu. Điều này cho thấy một hướng đi rất đáng mừng đó là Nhà nước có thể tự tra cứu, người dân không phải nộp giấy, nghĩa là thông tin nhạy cảm không cần phải đi xa.

Trong lĩnh vực nhà ở xã hội, hướng dẫn hồ sơ cũng thường yêu cầu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân tùy trường hợp đã kết hôn hay độc thân, và độc thân thì cần xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú. Khi nhu cầu nhà ở, vay vốn, giao dịch tài sản trở thành chuyện thường nhật, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cũng trở thành một loại giấy tờ người ta xin đi xin lại. Ở phía ngân hàng, nhiều hướng dẫn hồ sơ vay thế chấp liệt kê giấy đăng ký kết hôn hoặc giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như một phần giấy tờ nhân thân. Ở công chứng và bất động sản, nhiều nơi yêu cầu giấy này để xác định tài sản chung hay riêng và thẩm quyền ký, vì ai cũng sợ tranh chấp về sau. Và chính ở những luồng hồ sơ như vậy, thông tin ly hôn thường dễ di chuyển rộng hơn, không chỉ qua một cơ quan hộ tịch, mà còn qua công chứng, ngân hàng, hồ sơ lưu trữ của nhiều tổ chức, những người xử lý giấy tờ ở nhiều tầng nấc.

Đặt trong bối cảnh đó, câu hỏi quan trọng nhất không phải là có nên xác minh tình trạng hôn nhân hay không, mà là xác minh bằng cách nào để vừa chặt chẽ vừa ít xâm lấn. Quyền riêng tư không phải khái niệm mơ hồ. Hiến pháp ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và yêu cầu thông tin về đời sống riêng tư được bảo đảm an toàn. Bộ luật Dân sự cũng khẳng định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin phải theo nguyên tắc chặt chẽ. Nói cách khác, người đã ly hôn không xin đặc ân, họ chỉ xin hệ thống đối xử với câu chuyện riêng tư của họ đúng như pháp luật đã thừa nhận đó là được tôn trọng và bảo vệ.

Tôi nghĩ Nhà nước có cách khác, và tín hiệu đã xuất hiện ngay trong mô tả thủ tục trên cổng dịch vụ công. Theo đó, ưu tiên tra cứu dữ liệu trên hệ thống kết nối cơ sở dữ liệu; chỉ khi không tra cứu được mới yêu cầu nộp hoặc xuất trình giấy tờ. Nếu dữ liệu hộ tịch và dữ liệu dân cư được đồng bộ tốt, cơ quan Nhà nước có thể xác thực một “trạng thái” rất đơn giản đó là hiện người này có đang trong quan hệ hôn nhân hay không. Trạng thái là đủ, trạng thái là đúng trọng tâm vì trạng thái cũng là thứ ít gây tổn thương nhất, vì nó không kéo theo câu chuyện.

Điều này càng có cơ sở khi Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Luật mới không làm ai hết đau ngay, nhưng nó tạo ra một nguyên tắc phải tôn trọng đó là thu thập dữ liệu đúng mục đích, hạn chế tối đa, bảo đảm an toàn, và chịu trách nhiệm khi để xảy ra sự cố. Khi tư duy bảo vệ dữ liệu trở thành nghĩa vụ, quy trình hành chính buộc phải tự hỏi cần đến đâu là đủ, dữ liệu có cần di chuyển bằng bản scan và bản sao nữa không, và có thể thay thế bằng xác thực trên hệ thống không.

Khách hàng của tôi kết thúc câu chuyện bằng một điều rất người, và tôi nghĩ đó cũng là thông điệp của bài viết này. Anh nói anh không ghét thủ tục, anh hiểu quản lý cần chứng cứ nhưng chỉ mong hệ thống đừng bắt anh kể lại chuyện cũ nhiều lần, đừng bắt anh mang vết thương đi qua nhiều cửa, đừng để câu chuyện riêng tư trượt khỏi tay anh chỉ vì nó phải đi qua quá nhiều người. Một đời sống mới không cần được ban phát, nó chỉ cần được tôn trọng. Và đôi khi, tôn trọng không đòi hỏi những chính sách vĩ đại, mà bắt đầu từ những điều rất nhỏ đó là xác thực bằng dữ liệu thay vì bằng hồ sơ nhạy cảm, tối giản nội dung phải nộp, giảm điểm chạm của giấy tờ, và giữ cho người dân được kín đáo trong những khoảnh khắc mong manh nhất.

Ly hôn đã là nỗi đau thầm kín không nói bằng lời và nhiều người muốn chôn chặt nó để sống tiếp. Thủ tục hành chính, nếu có thể, nên là cây cầu đưa họ qua bờ mới, chứ không phải chiếc gương bắt họ đứng lại soi vết nứt cũ dưới đèn trắng. Và nếu đã cần một tờ giấy để bắt đầu lại, hãy để tờ giấy ấy chỉ xác nhận hiện tại của họ, chứ đừng bắt họ mang theo cả quá khứ như một cái bóng không chịu buông tha.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều. 

Ly cà phê đắt nhất thế giới

 Ly cà phê đắt nhất thế giới

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Nếu hỏi trên thế giới này, ở đâu một ly cà phê là đắt nhất, rất nhiều người sẽ nghĩ đến Paris với những quán cổ kính nhìn ra đại lộ, New York với các chuỗi cà phê nơi giá tiền đi kèm tốc độ và thương hiệu, hay Tokyo nơi một ly cà phê có thể được pha cầu kỳ đến mức giống một nghi lễ hơn là một thức uống. Những người mê cà phê đặc sản sẽ nhắc đến các loại hạt hiếm, những phương pháp rang xay tinh vi, và những hóa đơn đủ khiến người ta phải chần chừ trước khi gọi món.

Nhưng nếu câu hỏi ấy được hiểu theo một nghĩa khác, không phải giá niêm yết trên thực đơn, mà là cái giá thực sự con người phải trả để “uống” một ly cà phê trong đời sống hằng ngày, thì câu trả lời có thể khiến nhiều người ngạc nhiên. Bởi theo nghĩa đó, ly cà phê đắt nhất thế giới rất có thể lại nằm ở ngay chính Việt Nam ta.

Nghịch lý ở chỗ, Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất toàn cầu. Hạt cà phê Việt đi xa, góp mặt trong những chuỗi cung ứng lớn, được kể những câu chuyện đẹp về vùng trồng, khí hậu và bàn tay người nông dân. Trong nước, cà phê là một phần của nếp sống đô thị, từ quán vỉa hè đến không gian sang trọng. Xét về tiền, giá một ly cà phê trong quán ở Việt Nam không hề đắt, thậm chí còn rẻ so với nhiều nơi khác. Vậy vì sao tôi lại nói Việt Nam có ly cà phê đắt nhất thế giới?

Bởi có một loại cà phê khác không nằm trong quán, nó không có bảng giá, không được gọi tên trên thực đơn, và cũng không bao giờ xuất hiện trên hóa đơn tính tiền. Loại cà phê ấy không được uống để tỉnh táo, mà để mọi việc trôi chảy. Không được nhâm nhi, mà được “dùng” trong những khoảnh khắc người ta chỉ muốn cuộc sống được vận hành bình thường, không trục trặc, không chậm trễ, không phải quay lại quá nhiều lần.

Là một luật sư hành nghề lâu năm, tôi gặp loại cà phê ấy nhiều hơn tôi từng muốn. Tôi không gặp nó trong những cuộc tiếp khách hay thương lượng hợp đồng, mà trong những câu chuyện rất đời thường mà thân chủ kể lại sau một chuỗi ngày chạy giấy tờ. Tôi gặp nó trong những ánh mắt mệt mỏi khi người ta hỏi tôi không phải điều luật này nằm ở đâu, mà là liệu có kịp thời gian không. Tôi gặp nó trong những câu nói lửng lơ, đủ nhẹ để không ai khó xử, nhưng cũng đủ rõ để người nghe tự hiểu rằng có những con đường đi nhanh hơn con đường được vẽ sẵn.

Trong hành nghề, tôi nhận ra rằng mình ngày càng nghe ít câu hỏi về đúng hay sai, nhưng lại nghe nhiều hơn những câu hỏi về bao lâu thì xong. Luật có thể ghi thời hạn, quy trình có thể niêm yết nhưng giữa thời hạn trên giấy và thời gian ngoài đời đôi khi tồn tại một khoảng chờ không có ranh giới. Khoảng chờ ấy có khi hoàn toàn khách quan, do quá tải, do thiếu nhân sự, do hệ thống chậm, lỗi. Tôi hiểu điều đó, và tôi cũng đã gặp rất nhiều nơi làm việc chuẩn mực, nơi người dân chỉ cần làm đúng các bước thủ tịc là xong việc, không phải đoán, không phải lo, không phải nghe bất kỳ câu nói bóng gió nào.

Nhưng bên cạnh đó, cũng có những tình huống khiến người ta rời khỏi quầy tiếp nhận với một cảm giác lấn cấn, rằng mình đã làm đúng, giấy tờ đã đủ, mà mọi thứ vẫn như đang đứng trước một cánh cửa không có tay nắm. Hồ sơ bị trả lại vì những lý do rất nhỏ, rất mơ hồ, rất khó phản biện. Mỗi lần trả là thêm một lần chờ, mà mỗi lần chờ là thêm một lần mệt. Và khi mệt đủ lâu, người ta bắt đầu nghĩ đến ly cà phê như một cách để đổi lấy sự chắc chắn.

Ly cà phê ấy không đến như một yêu cầu. Nó đến như một sự gợi ý về sự thông cảm. Nó không được nói thẳng, mà nằm trong câu chuyện về sự bận rộn, về lịch trình, về khả năng hỗ trợ nhanh hơn. Người nghe tự hiểu và người nói cũng không cần nói thêm. Và chính vì không ai bắt ai, nên rất khó gọi tên, rất khó phản ứng, và càng khó sửa.

Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là ly cà phê ấy không chỉ xuất hiện trong những thủ tục hành chính, mà len vào cả những nhu cầu thiết yếu của đời sống.

Nhà bị rò điện, một chuyện không thể xem nhẹ. Gọi người xuống kiểm tra, người kỹ thuật đến rất nhiệt tình, có nhiều kinh nghiệm. Nhưng rồi bên cạnh câu chuyện chuyên môn, đôi khi xuất hiện thêm những lời trao đổi mang tính “tình cảm”, rằng anh em cũng chạy nhiều điểm, rằng nếu cần sớm thì phải sắp xếp. Ly cà phê lúc này không mua sự ưu ái vô lý, mà là mua cảm giác yên tâm rằng nguy cơ được xử lý kịp thời.

Đường nước bị rò rỉ cũng vậy. Nước thấm tường, sinh hoạt đảo lộn, hóa đơn tăng bất thường. Có khi chờ vài ngày vẫn chưa đến lượt vì quá tải. Nếu chờ theo lịch, có thể được nhưng nếu cần gấp, lại có cách để được ưu tiên. Ly cà phê ở đây mua tốc độ, mua sự kịp thời, và kịp thời là thứ có giá khi nước đang thấm từng giờ.

Rồi đến đường truyền internet. Nếu trước đây mất mạng chỉ là bất tiện, thì ngày nay mất mạng có thể là mất việc. Công ty họp trực tuyến, ký kết, gửi hồ sơ, giao dịch ngân hàng. Học sinh học online, gia đình quản lý camera, thiết bị thông minh. Tôi đã gặp những thân chủ chỉ cần mất internet vài giờ là cả bộ phận tê liệt, cả chuỗi liên lạc với khách hàng bị đứt. Tổng đài hẹn lịch rồi hẹn lại. Đến khi có người xuống, mọi thứ đôi khi lại “bình thường”. Và trong cái bất định ấy, người ta lại nghe những câu nói quen thuộc về sự ưu tiên, về việc hỗ trợ sớm hơn. Ly cà phê lúc này không mua đặc quyền, mà mua sự chắc chắn rằng đường truyền của mình không bị bỏ quên.

Có những chuyện liên quan đến trật tự khu phố. Khi một sự việc xảy ra, người dân gọi người có thẩm quyền xuống hỗ trợ để mọi thứ yên. Việc được xử lý, ai cũng thở phào. Và rồi không ít lần, câu chuyện khép lại bằng một sự quan tâm rất đời thường. Không ai gọi đó là điều kiện. Người ta gọi đó là phép ứng xử. Nhưng khi phép ứng xử ấy lặp đi lặp lại đủ nhiều, nó dần trở thành kỳ vọng ngầm.

Ngay cả việc đổ rác, một việc tưởng như đơn giản nhất của đời sống đô thị, cũng không hoàn toàn nằm ngoài logic ấy. Có nơi mọi thứ vận hành đều đặn, sạch sẽ, không cần nghĩ thêm gì. Nhưng cũng có nơi, muốn mọi thứ trơn tru hơn, người dân tự truyền nhau những “kinh nghiệm sống” rất nhỏ, rất quen.

Những câu chuyện này, nếu nhìn riêng lẻ, đều rất nhỏ. Không đủ lớn để gây phẫn nộ, cũng không đủ rõ để khiếu nại. Nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng vẽ ra một bức tranh quen thuộc đó là để đời sống vận hành êm, người ta phải học cách mềm.

Cao trào của câu chuyện, với tôi, không nằm ở số tiền. Nó nằm ở khoảnh khắc người ta nhận ra mình đang trả tiến cà phê không phải để được ưu ái làm điều sai, mà để được nhận lại điều lẽ ra là bình thường. Khi một xã hội phải trả thêm để mua lại cái bình thường, thì chính khoảnh khắc ấy khiến người ta lạnh lòng.

Tôi từng thấy thân chủ của mình, sau khi xong việc pháp lý rất nhanh, lại không vui. Họ chỉ thở dài, bởi cảm giác chiến thắng không đến với họ. Thay vào đó là một bài học sống mà họ không muốn dạy con mình, nhưng lại sợ rằng con mình rồi cũng phải học để tồn tại.

Ly cà phê ấy vì thế rất đắt. Đắt vì nó không chỉ lấy tiền, mà lấy đi một chút niềm tin rằng làm đúng là đủ. Lấy đi một chút sự tự trọng khi phải nhún nhường. Lấy đi sự trong trẻo của những mối quan hệ vốn nên được đặt trên quy trình và trách nhiệm. Nó tạo ra một bất công rất lặng, nơi người “biết cách” thì trôi chảy hơn, người không biết thì chậm hơn, và bất công ấy không có biên bản, không có dấu vết, nên rất khó sửa.

Tôi không tin rằng câu chuyện này có thể được giải quyết bằng sự phẫn nộ hay quy kết. Nhưng tôi tin rằng nó có thể được thay đổi nếu quy trình đủ rõ và trực tuyến để người dân không phải đoán, nếu trách nhiệm gắn chặt với thời hạn, nếu thông tin minh bạch đến mức người dân có thể yên tâm chờ, và nếu làm đúng trở nên dễ hơn làm cho nhanh.

Tôi vẫn mong một ngày, khi điện nước rò rỉ, internet chập chờn, rác cần dọn, hay một thủ tục cần giải quyết, người dân chỉ cần làm đúng bước là nhận đúng hẹn, không phải phân vân giữa đúng và nhanh, không phải tự hỏi mình có thiếu “sự quan tâm” nào không.

Khi đó, cà phê sẽ lại chỉ là cà phê. Đắng thơm, tỉnh táo, và đáng để thưởng thức trong quán nhỏ. Còn cho đến khi ngày đó đến, ly cà phê Việt Nam vẫn sẽ là ly cà phê đắt nhất thế giới, không phải vì giá tiền, mà vì cái giá vô hình mà rất nhiều người đang âm thầm trả mỗi ngày, trong những việc nhỏ nhất của đời sống thường nhật.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều. 

Thế giới người lớn qua lăng kính trẻ thơ

 Thế giới người lớn qua lăng kính trẻ thơ

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Người lớn thường tin rằng mình đang nhìn thế giới rất đúng, vì mình có kinh nghiệm, có lý lẽ, có bối cảnh, có vô số thứ để giải thích cho một hành vi tưởng chừng đơn giản nhưng kéo theo nhiều hệ quả. Ta có thể biến một lần lỡ hẹn thành áp lực công việc, biến một sự thiếu kiên nhẫn thành mệt mỏi, biến một câu trả lời cụt lủn thành thói quen giao tiếp kiểu hiệu quả, rồi tự an ủi rằng mình vẫn là người tử tế, chỉ là đang phải gồng để chạy cho kịp nhịp đời.

Nhưng trẻ thơ thì không bước vào cuộc đối thoại bằng lý lẽ như người lớn, vì chúng không có nhu cầu thắng trong tranh luận, cũng không cần một kết luận đúng về mặt lập luận. Chúng chỉ cần được ở cùng, được nhìn thấy, được nghe thấy, và được cảm nhận rằng mình quan trọng trong thế giới của người lớn. Chính sự giản dị ấy làm cho góc nhìn trẻ thơ trở thành tấm gương khó chịu đối với người lớn theo cách rất hiền, bởi nó phản chiếu điều ta không muốn thừa nhận, rằng có khi ta có mặt rất nhiều nhưng lại hiện diện rất ít.

Tôi đứng ở vị trí của một người quan sát, không phải bằng sự tò mò vô tâm, mà bằng sự quan sát của một người đi qua nhiều câu chuyện gia đình, nhiều mối quan hệ, nhiều căn nhà tưởng như yên ấm nhưng bên trong lại có những khoảng trống mềm mại. Càng nghe nhiều, tôi càng thấy một hiện tượng lặp đi lặp lại, rằng đời sống người lớn ngày càng hợp lý, ngăn nắp, tối ưu, nhưng lại ngày càng thiếu ấm áp.

Nếu đặt mình xuống tầm mắt của trẻ con, ta sẽ thấy người lớn có những thói quen rất lạ, lạ đến mức người lớn cũng không nhận ra vì đã sống cùng nó quá lâu. Người lớn nói nhiều về tình thương, nhưng thường giao tình thương cho lịch trình, cho điện thoại, cho những cuộc gọi nối tiếp nhau. Người lớn hứa với con rằng sẽ chơi, sẽ nghe, sẽ dẫn chúng đi đâu đó, rồi lời hứa biến thành một lát nữa nhẹ nhàng như gió, nhưng cộng dồn có thể thành cả một mùa hè, thậm chí cả một tuổi thơ.

Trẻ con không gọi tên được trạng thái ấy bằng khái niệm, nhưng chúng cảm nhận bằng cơ thể của mình, bằng đôi mắt, bằng cách nó đứng chờ trước mặt người lớn, bằng cách im lặng lâu hơn bình thường, và bằng cách nó dần dần thôi hỏi. Trẻ con không cần biết ba mẹ đang làm gì trên màn hình, nó chỉ cần thấy rằng mỗi lần mình mở miệng kể chuyện, người lớn lại liếc xuống, chạm lướt một cái, rồi gật đầu rất nhanh như thể đang xử lý một việc gì đó cần kết thúc sớm. Trẻ con không phân tích hay kết tội, nhưng nó nhớ theo cách rất trẻ con mà sau này khi lớn lên mới thành một cảm giác rất người lớn, đó là cảm giác mình từng không được ai nghe đến tận cùng.

Thế giới người lớn có một thứ luật chung tên là “bận’’, và chữ bận đôi khi được dùng như tấm giấy thông hành đi qua mọi thiếu sót mà không phải dừng lại nhìn vào mắt người kia. Không đến họp phụ huynh vì bận, không chơi với con vì bận, không ăn cơm cùng nhau vì bận, không nhớ ngày sinh nhật con vì bận. Chữ bận giúp người lớn vừa cảm thấy mình quan trọng, vừa cảm thấy mình vô can, vì mình đâu có cố ý làm ai tổn thương, mình chỉ đang cố gắng thôi, mình chỉ đang gồng lên để lo cho gia đình.

Tôi hiểu phản biện ấy vì phần lớn trong đó có thể là thật, bởi đời sống hiện đại không cho phép người ta sống thong thả như một tấm bưu thiếp. Nhiều gia đình đang sống trong một nền kinh tế đắt đỏ, nơi tiền nhà, tiền học, tiền viện phí, tiền đủ thứ phí cứ tăng đều. Nhiều cha mẹ chạy từ sáng đến tối không phải vì thích bận mà vì sẽ rơi nếu không chạy, mà rơi thì đau, mà đau thì kéo theo cả con cái. Có người về đến nhà đã mệt rã rời, không phải không thương con, mà vì họ đang cạn pin thật sự, và trong hoàn cảnh đó, một lời khuyên kiểu phải luôn hiện diện trọn vẹn nghe có vẻ đẹp đẽ nhưng cũng dễ làm người ta cảm thấy tội lỗi, như thể mình đã sai từ khi bắt đầu.

Nhưng chính vì hiểu, tôi mới muốn phân biệt một điều. Có cái bận là bắt buộc nhưng cũng có cái bận là lựa chọn. Có những giờ làm thêm để dành trả tiền nhà và giữ cho gia đình khỏi trượt khỏi mức sống tối thiểu. Nhưng cũng có những giờ làm thêm là để trốn khỏi cảm giác trống trải trong chính căn nhà của mình, trốn khỏi những cuộc trò chuyện khó, trốn khỏi sự im lặng giữa vợ chồng, trốn khỏi nỗi sợ mình không biết phải làm cha mẹ thế nào cho đúng. Có những lần mở điện thoại là để giải quyết việc khẩn, nhưng cũng có những lần mở chỉ vì thói quen, vì nghiện, vì cảm giác nếu không chạm vào màn hình thì không biết đặt tay vào đâu.

Trẻ con không phân biệt được hai loại bận ấy của người lớn, nó chỉ thấy kết quả cuối cùng là bạn có ở đó với nó hay không. Và nếu phần bận lựa chọn cứ lấn dần, chiếm hết những khe thời gian còn lại, thì dù bạn có trăm lý do hợp lý, trẻ con vẫn cảm thấy mình đang đứng ngoài danh sách ưu tiên, mà cảm giác ấy khi lặp đi lặp lại sẽ biến thành thói quen, thói quen không chờ nữa, không hỏi nữa, không kể nữa, và không mong nữa.

Có người bảo rằng ngày xưa bố mẹ mình cũng bận mà con cái vẫn lớn lên, vẫn thành người, có sao đâu. Câu đó nghe thuyết phục, vì nó dựa vào ký ức và dựa vào sự chịu đựng của cả một thế hệ. Nhưng tôi thường nghĩ kỹ hơn một chút, không phải để phủ nhận quá khứ, mà để nhìn rõ hiện tại. Ngày xưa bận theo kiểu khác, bận nhiều là bận tay chân, và khi về nhà người ta vẫn có khả năng ở nhà, vì công việc không chui vào túi quần rung lên từng phút. Bây giờ cái bận nguy hiểm nhất là bận chú ý, một ngày bị xé nhỏ bởi thông báo, tin nhắn, cuộc gọi, email, tin tức, mạng xã hội, và áp lực phải phản hồi ngay để chứng minh mình vẫn đang kiểm soát. Người lớn mang sự phân mảnh đó về nhà, và dù thân thể đã ngồi xuống, tâm trí vẫn bị kéo đi, khiến sự có mặt trở thành một thứ mỏng, mỏng đến mức trẻ con chạm vào là biết ngay.

Lại có người nói rằng trẻ con bây giờ cũng dán mắt vào điện thoại, vậy trách ai. Tôi không tranh cãi mà chỉ nhìn theo hướng khác, rằng trẻ con học cách sống rất nhanh bằng cách nhìn người lớn, và nếu người lớn coi việc nhìn điện thoại mọi lúc là bình thường, trẻ con sẽ coi đó là chuẩn mực. Nếu bữa cơm là nơi ai cũng lướt, trẻ con sẽ coi bữa cơm chỉ là chỗ nạp năng lượng chứ không phải chỗ nạp tình thân. Nếu người lớn luôn trả lời câu chuyện của con bằng vài chữ cho xong, trẻ con sẽ học cách kể chuyện bằng nửa lòng mình, rồi dần dần nó sẽ thôi kể.

Điều đáng buồn của hiện tượng này là nó hiếm khi nổ tung thành cuộc cãi vã lớn, nó không tạo ra một biến cố đủ kịch tính để người lớn giật mình. Nó tạo ra một loại xa cách âm thầm, gia đình vẫn hoạt động, con vẫn đi học, ba mẹ vẫn đóng phí, nhà vẫn sạch, lễ tết vẫn đủ, nhưng gắn kết thì mỏng đi, như một sợi dây bị mài mòn từ từ, chỉ yếu dần cho đến khi một ngày nào đó người lớn ngạc nhiên vì con ít nói, vì con không chia sẻ, vì con lạnh. Người lớn thường tìm nguyên nhân ở tuổi dậy thì, ở bạn bè, mạng xã hội hay môi trường học. Những thứ đó có thể đúng một phần, nhưng đôi khi nguyên nhân sâu và đau hơn là con đã quen với việc mình không phải là nơi để quay về, nên nó học cách tự xoay xở một mình.

Có một điểm quan trọng mà tôi muốn nói cho đủ công bằng, đó là trẻ con không đòi ba mẹ rảnh cả ngày, bỏ hết việc để ngồi bên cạnh suốt. Trẻ con chỉ cần những khoảnh khắc thật, những khoảnh khắc mà người lớn không nhìn vào màn hình, không vội, không biến cuộc trò chuyện với chúng thành một cuộc thẩm vấn về điểm số, thành tích, đúng sai. Một đứa trẻ chỉ cần mười lăm phút mỗi ngày cũng có thể cảm thấy ấm áp tình thương, nếu thời gian ấy nguyên vẹn, không bị cắt vụn, gián đoạn hay pha loãng bởi sự hiện diện nửa vời. Trẻ con đo tình thương không bằng số lượng thời gian, mà bằng độ thật của sự chú ý.

Thỉnh thoảng người lớn hay dùng một câu nghe rất hay để tự giải tỏa, rằng chất lượng quan trọng hơn số lượng. Câu đó đúng, nhưng cũng dễ bị lạm dụng. Chất lượng không phải là một chuyến đi chơi gia đình hoành tráng mỗi tháng để bù cho những ngày còn lại người lớn sống như một cái máy. Chất lượng không nằm ở nơi sang, quà đẹp, ảnh lung linh. Chất lượng nằm ở bữa cơm mà người lớn nhìn vào mắt con khi chúng nói, nằm ở một buổi tối mà cả nhà ngồi cạnh nhau và không ai bị giật đi bởi tiếng rung, nằm ở cách người lớn biết nói xin lỗi khi lỡ gắt, ở cách người lớn dám thừa nhận rằng hôm nay mình mệt nhưng mình vẫn muốn nghe con kể.

Cũng có người nghiêm khắc nói rằng trẻ con cần kỷ luật, cần ranh giới, không thể cứ lắng nghe và mềm mỏng mãi, như vậy con sẽ yếu. Tôi không phủ nhận kỷ luật, vì kỷ luật là nền tảng của một cuộc đời biết tự đứng. Nhưng lắng nghe không đồng nghĩa với nuông chiều, và hiện diện không đồng nghĩa với bỏ đi nguyên tắc. Ngược lại, một đứa trẻ được lắng nghe đúng cách thường chấp nhận ranh giới tốt hơn, vì nó thấy ranh giới được đặt ra trong sự tôn trọng, chứ không phải trong sự gắt gỏng. Một đứa trẻ được gắn kết thường ít nổi loạn hơn, vì nó không cần dùng nổi loạn để lôi kéo chú ý của người lớn. Nhiều người lớn tưởng rằng phải cứng thì con mới nghe, nhưng thực tế nhiều khi con nghe không phải vì sợ, mà vì con cảm thấy mình đang được yêu và được dẫn dắt.

Rốt cuộc, câu chuyện không phải là kết tội người lớn để họ thấy mình thiếu sót để rồi sống trong tội lỗi. Tội lỗi không nuôi được ai, nó chỉ làm người ta mệt thêm. Câu chuyện ở đây là nhận ra mình đang bị cuốn vào một nhịp sống khiến sự có mặt trở thành thủ tục, và nếu không cẩn thận, ta sẽ lỡ mất những điều không thể làm lại. Tuổi thơ của con cái không chờ đợi ai, nó đi nhanh hơn tất cả những gì người lớn tưởng tượng. Nó không đi bằng tiếng, nó đi bằng sự thay đổi âm thầm, từ việc con chạy ra cửa khi nghe tiếng xe về, đến việc con chỉ ngẩng đầu nhìn rồi lại cúi xuống, và một ngày nào đó, con không buồn ngẩng nữa.

Tôi nghĩ người lớn vẫn có thể làm một vài điều rất nhỏ nhưng rất có ý nghĩa, không phải để trở thành một phiên bản cha mẹ hoàn hảo, mà để giữ cho sợi dây gắn kết không bị mài mòn. Có thể là không cầm điện thoại trong bữa cơm, và nếu cần cầm thì nói rõ lý do chứ không lặng lẽ biến bữa cơm thành nơi ai cũng tự ăn trong im lặng. Có thể là mỗi ngày dành một khoảng thời gian ngắn nhưng nguyên vẹn cho con. Có thể là học lại cách nghe hết một câu chuyện, dù câu chuyện đó không có ích gì theo tiêu chuẩn người lớn, vì cái ích ở đây không nằm ở thông tin, mà nằm ở cảm giác con được ở cùng mình và được lắng nghe.

Và cũng nên cho phép người lớn được mệt một cách tử tế. Nếu mệt, hãy nói mệt. Nếu cần vài phút tỉnh lặng, hãy nói rõ, rồi sau đó quay lại. Trẻ con chịu được sự thật tốt hơn người lớn tưởng, vì sự thật có cấu trúc, ranh giới, và lòng tin. Điều trẻ con khó chịu nhất không phải là cha mẹ mệt, mà là cha mẹ mệt nhưng không nói, rồi biến mệt thành cáu, biến cáu thành lời nặng, và biến lời nặng thành một cái gì đó con phải tự nuốt một mình.

Nhìn rộng ra, đây không chỉ là chuyện trong nhà, mà là lát cắt của xã hội. Khi nhịp sống càng nhanh, khi sự chú ý bị kéo đi liên tục, khi hiệu suất trở thành thước đo quen thuộc, người lớn dễ rơi vào trạng thái vận hành trơn tru mà sống thì hụt. Và nếu mình không kịp chậm lại đôi chút, có thể rồi một thế hệ trẻ em sẽ lớn lên cũng biết tối ưu, tính toán, tự lo, nhưng lại lúng túng trước một điều rất giản dị, đó là ngồi cạnh nhau mà thấy gần, ở cùng nhau mà không thấy lạc.

Tôi cũng không muốn kết bài bằng lời kêu gọi to tát, vì ai cũng đã đủ áp lực rồi. Tôi chỉ muốn để lại một câu hỏi nhỏ. Nếu một ngày nào đó, con bạn ngước lên nhìn và hỏi bạn đang ở nhà hay đang ở đâu, bạn sẽ trả lời thế nào, và điều quan trọng hơn là trong mắt con, câu trả lời ấy có thật không.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều. 

Thú chơi xe cổ có còn là thú vui vô hại


Thú chơi xe cổ có còn là thú vui vô hại

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Sáng chủ nhật nào tôi cũng thường bước ra gara trước nhà như một thói quen cũ mà ai chơi xe cổ đều hiểu. Tôi không ra để đi đâu xa, cũng không ra để chứng minh với ai rằng tôi còn đủ kiên nhẫn cho một thứ vốn dĩ đã chậm chạp. Tôi chỉ mở cửa, kéo tấm bạt lên, đứng yên một lúc cho mắt quen dần với ánh sáng, rồi chạm tay lên lớp kim loại đã qua năm tháng như chào một người bạn già thân quen. Xe cổ không phải kiểu bấm nút là chạy ngay. Nó cần đến vài giây để nhớ lại mình là ai, rồi mới trả lời bằng tiếng máy, bằng độ rung, bằng cái mùi xăng dầu pha lẫn da cũ, mùi kim loại ấm dần theo thời gian. Có những mùi rất lạ, chỉ cần thoảng qua là ký ức hiện về, kéo mình về những đoạn đường của những ngày tháng cũ khi người ta đi chậm hơn một chút, nhìn nhau lâu hơn một chút, và đôi khi chỉ vì một bài nhạc hay mà cố chạy vòng thêm vài con phố.

Tôi không chống xe điện và cũng không phủ nhận thành phố đang ngộp thở. Không khí sạch là mục tiêu đúng. Nhưng giữa tiếng máy già và nhịp thở nhẹ của một chiếc xe đã đi qua vài thập kỷ, tôi vẫn hay nuốt một vài cái nghẹn. Nuốt không phải vì lãng mạn hóa quá khứ mà nuốt vì câu hỏi cứ tiến lại gần, rồi bạn già này của tôi sẽ còn được chạy ở đâu, chạy như thế nào, và chạy đến bao giờ, khi kiểm định khí thải ngày càng nghiêm, khi các khu vực trung tâm ngày càng có xu hướng siết phương tiện, và khi thái độ xã hội với những thứ dùng nhiên liệu hóa thạch cũng trở nên khắt khe hơn.


Tôi cho xe vòng ra đường lớn. Chuyến đi hôm nay chỉ là một vòng ngắn, kiểu chạy để xe khỏi ì, để dầu nhớt được luân chuyển, để cái máy không bị bỏ quên trong im lặng. Tôi chọn tuyến đường ít xe và tránh giờ cao điểm. Xe cổ không thích bị dồn ép. Nó giống người già, không hợp với nhịp phanh ga liên tục như bị thúc cho kịp người khác. Tôi chạy vừa phải, giữ khoảng cách, nghe kỹ từng tiếng động nhỏ. Xe mới báo lỗi bằng đèn và màn hình còn xe cũ thì báo lỗi bằng linh cảm, bằng một tiếng lạ thoáng qua cũng đủ làm mình tự nhiên nghiêm túc.

Đi được một đoạn, tôi bất giác nghĩ về điều mà người ngoài cuộc đôi khi không để ý. Xe cổ không chỉ là máy móc. Nó là một cái hộp đựng kỷ niệm của cả một đời sống đô thị. Nó từng chở nhiều người khác trước khi chở mình. Có những chiếc xe từng góp mặt trong đám rước dâu ngày xưa, đi chậm rãi như một nghi lễ, phía trước là đoàn người quen, phía sau là tiếng cười, tiếng chúc, tiếng còi không gắt mà như lời chào. Có những chuyến xe chở cả nhà đi thăm bà con họ hàng ngày Tết, chở một giỏ quà, một bó hoa, một cảm giác ấm áp mà giờ đây đôi khi phải cố giữ mới còn. Xe cổ, dù là xe máy hay ôtô, thường gắn với những khoảnh khắc chuyển đời, từ rước dâu đến đưa người thân đi viện, từ chuyến đi làm ăn đầu tiên đến chuyến đưa con đi học buổi đầu. Ký ức không nằm trong một tấm ảnh, nó bám vào tay lái, bám vào tiếng máy, bám vào mùi trong khoang xe, và mỗi lần nổ máy là như mở lại một ngăn ký ức có thể nghe được.

Đến một ngã tư, tôi dừng đèn đỏ cạnh một chiếc xe điện mới tinh. Nó im lặng đến mức tôi nghe rõ từng tiếng thở của mình. Xe tôi thì rung nhẹ, tiếng máy đều đều như một nhịp tim già, không mạnh nhưng bền. Một cậu thanh niên trẻ quay sang nhìn, mắt sáng lên rồi giơ điện thoại chụp vội. Tôi thấy trong ánh mắt đó sự tò mò thật, kiểu tò mò khi gặp một thứ lạc khỏi dòng chảy chung mà vẫn có duyên.

Khoảnh khắc ấy kéo tôi về một ký ức điện ảnh, thứ ký ức mà nhiều người yêu xe vẫn nhắc như nhắc một đoạn nhạc nền của tuổi trẻ. Tôi nhớ cảnh rượt đuổi trong phim Bullitt (1968), khi Steve McQueen cầm lái chiếc Ford Mustang đời 1968 lao qua những con dốc của San Francisco. Cảnh đó sống lâu không chỉ vì tốc độ. Nó sống vì tiếng máy, vì cái cảm giác người lái đang thật sự điều khiển một khối kim loại sống, và vì sự hiện diện của cơ khí, thứ làm con người thấy mình có dính dáng trực tiếp đến hành trình, chứ không chỉ ngồi trong một chiếc hộp thông minh được chở đi.

Tôi không đem phim ra để so kè cũ mới. Tôi chỉ nhận ra xe cổ chạm vào ta theo một cách rất lạ. Nó không chỉ là phương tiện mà là một kiểu tự do rất nhỏ, tự do được đi theo nhịp của mình, được nghe tiếng máy trả lời tay ga, được cảm thấy mình đang lái chứ không phải đang được chở. Và khi xe điện ngày càng nhiều, khi sự im lặng ngày càng được xem là văn minh, người chơi xe cổ đôi khi thấy mình như đang cầm một thứ ồn ào trong tay, thứ ồn ào không nhằm làm phiền ai nhưng vẫn có nguy cơ bị nhìn như một lỗi thời cần phải loại bỏ.

Tôi ghé vào quán cà phê quen, nơi lâu lâu anh em chơi xe vẫn tụ lại. Chúng tôi vẫn nói chuyện phụ tùng, thợ máy, cách giữ xe trong khí hậu ẩm, cách bảo dưỡng để xe không chết vì nằm quá lâu. Nhưng dạo gần đây câu chuyện hay xoay về một chỗ, khí thải, kiểm định, vùng hạn chế, và xe điện. Một anh bạn hỏi rất khẽ trầm ngâm, rồi sao nữa, rồi mình còn chơi tiếp được không.

Câu hỏi ấy làm người ta nghẹn vì nó không chỉ là câu hỏi về thú vui. Nó là câu hỏi về quyền được giữ một phần hoài niệm một cách đàng hoàng, hợp pháp. Tôi biết sẽ có người phản biện, ô nhiễm là ô nhiễm, xe cổ nhả khói thì cũng là hại, ai cũng phải chịu. Tôi không tranh cãi chuyện không khí sạch nhưng tôi muốn hỏi cách làm. Ngoại lệ có phải lúc nào cũng đồng nghĩa với đặc quyền không. Hay đôi khi ngoại lệ chỉ là quản trị thông minh dựa trên mức độ sử dụng và mức độ rủi ro.

Xe cổ, nhìn cho đúng, thường chạy rất ít. Nó không phải xe dịch vụ cày đường và cũng không phải phương tiện chen chúc vào giờ cao điểm mỗi ngày. Nó giống một món đồ sưu tầm có khả năng di chuyển, và phần di chuyển đó chính là phần làm nên linh hồn của nó. Khi xã hội gom tất cả xe cũ vào một nhóm rồi xử lý bằng một lưỡi dao, cảm giác bị quy chụp sẽ xuất hiện. Và khi cảm giác đó xuất hiện, người ta thường rẽ sang hai hướng đều không đẹp cho lắm. Một là phủ bạt xe lại vĩnh viễn, biến xe cổ thành vật trưng bày bất đắc dĩ. Hai là lách luật, chạy lén lút, làm xấu chính tinh thần tuân thủ mà xã hội đang muốn xây.

Tôi nhìn chiếc xe của mình và nghĩ đến thị trường xe cổ ở Việt Nam rồi sẽ ra sao. Nếu không có một hành lang pháp lý hợp lý, thị trường sẽ phân hóa mạnh. Xe giấy tờ rõ ràng, tình trạng nguyên bản cao, bảo dưỡng bài bản sẽ trở nên quý hơn vì ít rủi ro hơn. Xe mù mờ, độ chế tùy hứng, sống bằng may rủi sẽ rơi nhanh xuống đáy. Thú chơi vốn sống bằng đam mê sẽ bị kéo sang sống bằng nỗi sợ. Và khi xe ít được chạy, hệ sinh thái đi kèm cũng teo lại theo, thợ phục chế giỏi đổi nghề, nguồn phụ tùng hiếm dần, kỹ năng giữ xe thành một thứ nghề thủ công có nguy cơ biến mất.

Rồi sẽ có người đề xuất một lối thoát nghe rất hợp thời, điện hóa xe cổ, vẫn giữ dáng cũ nhưng thay ruột. Tôi không phủ nhận đây là giải pháp kỹ thuật cho một số người. Nhưng với nhiều người chơi xe cổ như tôi, nó giống như giữ thân xác mà đổi giọng nói. Xe cổ quý ở tiếng máy, ở độ rung, ở cách truyền động, ở cả cái tính nết hơi bướng bỉnh khiến mình phải hiểu và chiều nó. Điện hóa có thể giúp xe được chạy, nhưng cũng có thể làm xe mất điều làm nên lý do người ta yêu nó. Khi buộc phải chọn, mình chọn được chạy hay chọn được là chính mình. Câu hỏi đó không hề nhẹ.

Nhìn ra các nước khác, tôi thấy họ cũng đi theo xu hướng siết khí thải, nhưng nhiều nơi cố gắng phân loại thay vì gom lại. Có nơi tạo hành lang pháp lý riêng cho phương tiện lịch sử, kèm tiêu chí rõ ràng và điều kiện nghiêm để tránh lợi dụng. Có nơi giữ tiêu chuẩn rất chặt, khiến ai muốn giữ xe cũ phải giữ bằng kỷ luật và chi phí. Có nơi tranh luận gay gắt, nhưng tranh luận chỉ xoay quanh mức độ sử dụng và tác động thật, chứ không chỉ cãi bằng cảm xúc. Dù chọn cách nào, họ đều cố trả lời một câu hỏi chung. Làm sao để không khí sạch hơn mà xã hội không trở nên thô bạo với những thứ chạy ít, có giá trị, và được chăm tử tế.

Và rồi, nếu kéo dài suy nghĩ thêm một chút, câu chuyện xe cổ không chỉ là chuyện cá nhân của vài người mê đồ cũ như tôi. Nó còn là cả một câu chuyện về ký ức đô thị. Nhất là với Saigon, có một lớp ký ức trước 1975 mà nhiều người vẫn nhắc bằng giọng trầm xuống, không phải để tranh luận đúng sai về lịch sử, mà để nhớ về nhịp sống. Nhớ một thành phố từng thong thả hơn, nơi đường phố có kẽ hở cho người ta nhìn nhau, nơi chiếc xe không chỉ là vật dụng mà còn là phong cách sống, lịch thiệp, có phần nâng niu. Khi một chiếc xe cổ chạy qua, đôi khi người ta quay lại nhìn không phải vì nó xịn, mà vì nó kéo theo một cảm giác đã mất, cảm giác đời sống từng có những khoảng chậm tử tế.

Tôi nghĩ, điều đáng bàn không phải là có siết khí thải hay không. Xu thế sạch hơn là đúng nhưng cái khó lại nằm ở cách siết. Chúng ta có thể làm cho đô thị sạch hơn mà không biến quá khứ thành thứ phải trốn trong gara không. Chúng ta có thể siết mà vẫn phân loại theo mức độ sử dụng không. Chúng ta có thể nghiêm với xe cũ kém chất lượng chạy hằng ngày, nhưng chừa một hành lang pháp lý rõ ràng cho xe sưu tầm chạy ít, có hồ sơ, có bảo dưỡng, có trách nhiệm không. Nếu không đặt câu hỏi đó, câu chuyện sẽ trượt rất nhanh về hai cực, hoặc thả nổi, hoặc cấm thẳng tay. Và cả hai cực đều dễ khiến xã hội mất đi cơ hội cùng đi.

Cao trào của câu chuyện với tôi không nằm ở hội thảo hay văn bản mà nằm ở một hình dung rất đời. Một ngày nào đó tôi vào gara nổ máy đạp ga chiếc xe cổ của mình, tiếng máy già còn chưa kịp ấm, tôi đã phải quay vào vì một biển cấm mới. Không phải vì tôi muốn chống lại không khí sạch mà vì tôi bỗng trở thành người không có chỗ trên đường phố. Tôi sẽ phủ bạt lại, ngồi yên, nuốt cái nghẹn vào lòng vì biết mình không thể cãi xu thế. Nhưng tôi cũng sẽ nuốt thêm một phần ký ức, ký ức của những đám rước dâu đi chậm, của những chuyến đi Tết, của một thành phố từng có nhịp riêng, nơi tiếng máy không chỉ là tiếng ồn, mà đôi khi là tiếng của đời sống.

Người ta hay nói ký ức chỉ cần để trong tim là đủ nhưng với tôi ký ức nếu chỉ để trong tim thì dễ nhạt. Ký ức cần được nhìn thấy, được nghe, được chạm. Xe cổ, theo cách nào đó, là ký ức có thể khởi động. Và vì thế, khi bàn về khí thải và tương lai xe điện, tôi vẫn muốn giữ lại một câu hỏi mở cuối, không để chống ai cả, chỉ để người đọc tự trả lời. Liệu chúng ta có đang vô tình làm nghèo đi đời sống của mình bằng cách gạt quá khứ ra khỏi tầm mắt không, và một xã hội nghèo ký ức thì có chắc sẽ giàu tương lai không.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều. 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Học nghề, tập nghề và thực tập tại doanh nghiệp: ranh giới giữa “đào tạo” và “lao động có trả lương”

 

Học nghề, tập nghề và thực tập tại doanh nghiệp: ranh giới giữa “đào tạo” và “lao động có trả lương”
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners) 

Tập nghề, học nghề và thực tập tại doanh nghiệp (DN) đang trở thành những công cụ quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của nhiều DN. Khi thị trường lao động liên tục thay đổi, kỹ năng nghề nghiệp cần được cập nhật thường xuyên và những người trẻ bước vào thị trường lao động cần một giai đoạn trải nghiệm thực tế trước khi đảm nhiệm vị trí chính thức, các hình thức đào tạo này trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. DN cũng mong muốn có một khoảng thời gian hợp lý quan sát và đánh giá ứng viên trong môi trường làm việc thật sự vì sai lầm tuyển dụng thường dẫn đến rủi ro tranh chấp, chi phí chấm dứt mối quan hệ lao động cao và ảnh hưởng đến chất lượng vận hành. Tuy nhiên, nếu áp dụng không đúng bản chất, ba hình thức này dễ bị biến tướng thành nguồn lao động giá rẻ, thậm chí trở thành cách để DN trì hoãn hoặc né tránh nghĩa vụ ký hợp đồng lao động (HĐLĐ). Việc xác định đúng ranh giới giữa “đào tạo” và “lao động có trả lương” vì vậy không chỉ giúp DN tuân thủ pháp luật mà còn giúp người học được bảo vệ tốt hơn.



Theo Bộ luật Lao động, tập nghề trong DN là giai đoạn thực hành trực tiếp dưới sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm nhằm làm quen với công việc, còn học nghề chủ yếu nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng nền tảng của nghề trước khi tuyển dụng chính thức. Thực tập thì lại có tính chất khác, thường gắn liền với chương trình đào tạo của nhà trường hoặc được thực hiện tự nguyện theo thỏa thuận giữa DN và thực tập sinh nhằm mục tiêu trải nghiệm nghề nghiệp. Dù tên gọi có khác nhau, điểm chung quan trọng nhất là ba hình thức này chỉ được xem là hoạt động đào tạo nghề nếu người tham gia không bị DN sử dụng như người lao động, không bị giao nghĩa vụ tạo ra giá trị kinh tế, không bị yêu cầu chịu trách nhiệm độc lập về kết quả công việc và không bị quản lý như nhân viên chính thức.

Trong thực tế, nhiều DN thường nhầm lẫn hoặc cố ý sử dụng tên gọi “tập nghề”, “học nghề” hay “thực tập” để che giấu quan hệ lao động thực sự. Tuy nhiên, tên gọi của văn bản thỏa thuận không quyết định bản chất pháp lý của nó. Nếu bị thanh tra, thanh tra lao động sẽ đánh giá dựa trên những gì xảy ra hằng ngày chứ không dựa vào cách DN gọi tên hoạt động đó là gì. Nếu người tham gia phải làm theo ca, chịu sự điều hành, bị giao KPI, hoàn thành chỉ tiêu công việc, lập báo cáo năng suất hoặc trực tiếp tham gia sản xuất-kinh doanh, quan hệ đó mặc nhiên trở thành quan hệ lao động. Khi đó DN phải ký HĐLĐ, trả lương và đóng bảo hiểm xã hội (BHXH). Việc DN gắn nhãn “đào tạo” chỉ có ý nghĩa hình thức và không có giá trị pháp lý khi tranh chấp phát sinh.

Bên cạnh đó, thời gian đào tạo cũng là yếu tố quan trọng để nhận diện hoạt động có đúng bản chất hay không. Pháp luật quy định thời gian tập nghề tối đa là ba tháng và không có cơ chế gia hạn hoặc ký lại. Điều này giúp bảo đảm tập nghề không bị lạm dụng thành một giai đoạn thử việc trá hình kéo dài. Nếu DN kéo dài tập nghề bằng nhiều văn bản khác nhau, thanh tra lao động có quyền xem xét đây là hành vi trốn tránh nghĩa vụ ký HĐLĐ. Học nghề có phạm vi rộng hơn, chịu sự điều chỉnh của cả Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục nghề nghiệp. Nếu DN đào tạo nghề theo chương trình giáo dục nghề nghiệp chính quy để cấp chứng chỉ sơ cấp, trung cấp hoặc cao đẳng, DN phải ký hợp đồng học nghề theo mẫu và nội dung bắt buộc của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Còn đối với đào tạo nội bộ nhằm tuyển dụng, DN không phải đăng ký ngành nghề đào tạo nhưng phải có thỏa thuận học nghề bằng văn bản, thể hiện rõ mục tiêu, nội dung và thời gian đào tạo. Pháp luật không quy định việc ký hợp đồng học nghề nhiều lần trong trường hợp đào tạo nội bộ. Nếu DN liên tục ký lại hợp đồng học nghề hoặc kéo dài thờ gian học nghề không hợp lý mà không có hồ sơ đào tạo minh bạch và đánh giá kết quả, quan hệ này rất dễ bị xem là DN đang lợi dụng đào tạo để sử dụng lao động.

Trong khi đó, thực tập sinh thường tham gia DN theo chương trình đào tạo của nhà trường với thời gian từ 6 tuần đến 3 tháng hoặc theo thỏa thuận tự nguyện. Tuy nhiên, dù theo hình thức nào, công việc của thực tập sinh phải gắn với mục tiêu học tập. DN không được giao thực tập sinh những nhiệm vụ độc lập mang tính lao động chính thức hoặc đánh giá họ theo hiệu suất như nhân viên. Một khi thực tập sinh bị sử dụng như lao động, DN buộc phải ký HĐLĐ thay vì tiếp tục gọi họ là thực tập sinh.

Về phụ cấp hỗ trợ, nhiều DN băn khoăn liệu các khoản chi như tiền đi lại, ăn trưa, gửi xe có phải đóng thuế thu nhập cá nhân hay không. Pháp luật thuế luôn xem xét bản chất khoản chi. Nếu khoản hỗ trợ nhằm bù đắp chi phí thực tế phát sinh khi người học tham gia đào tạo và có quy chế nội bộ rõ ràng và nằm trong khoảng tiền được miễn thuế, khoản này không bị tính thuế thu nhập cá nhân. Nhưng nếu DN chi cố định lớn theo tháng, không phụ thuộc vào chi phí thực tế, cơ quan thuế có thể xem đây là khoản chi trả công và yêu cầu khấu trừ thuế. Đây là một điểm DN cần hết sức lưu ý để tránh bị ấn định thuế khi kiểm tra.

Về an toàn lao động, dù người tập nghề, học nghề hoặc thực tập sinh không thuộc nhóm phải đóng BHXH bắt buộc, DN vẫn chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động cho họ. DN phải hướng dẫn an toàn, trang bị dụng cụ bảo hộ và giám sát rủi ro trong quá trình người tham gia thực hành. Nếu xảy ra tai nạn trong phạm vi được hướng dẫn hoặc do lỗi của DN, DN vẫn phải bồi thường. Chi phí bồi thường một vụ tai nạn có thể rất lớn, do đó DN nên mua bảo hiểm tai nạn 24/24 cho nhóm đối tượng này như một biện pháp quản trị rủi ro hợp lý.

Một câu hỏi thường gặp là liệu sau khi hoàn thành tập nghề, học nghề hoặc thực tập, người tham gia có phải thử việc khi DN muốn tuyển dụng họ chính thức không. Pháp luật không buộc DN phải thử việc nếu đã đánh giá đầy đủ năng lực của người tham gia trong quá trình đào tạo. Riêng người học nghề và tập nghề, theo Điều 61 Bộ Luật lao động, nếu họ đạt yêu cầu và được tuyển dụng, DN phải ký HĐLĐ ngay và không được yêu cầu thử việc. Riêng đối với thực tập sinh, vì mục tiêu đào tạo chủ yếu là trang bị kỹ năng nghề hơn là đánh giá toàn diện khả năng làm việc thực sự, DN vẫn có quyền yêu cầu thử việc theo quy định nếu thấy cần thiết.

DN cũng thường băn khoăn liệu việc đào tạo nội bộ có yêu cầu phải bổ sung ngành nghề “đào tạo nghề” trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hay không. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, DN chỉ phải đăng ký ngành nghề đào tạo khi cung cấp dịch vụ đào tạo chính quy, có tuyển sinh công khai, thu học phí và cấp chứng chỉ. Nếu DN chỉ đào tạo nội bộ để phục vụ tuyển dụng, không thu học phí và không tuyển sinh rộng rãi, DN không cần bổ sung ngành nghề đào tạo trong giấy phép kinh doanh của mình. Điều này tạo linh hoạt cho DN nhưng cũng đòi hỏi DN phải tách bạch rõ hoạt động đào tạo nội bộ với hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục nghề nghiệp.

Lưu ý, DN vẫn đối diện nguy cơ bị xử phạt nếu áp dụng sai hình thức. Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định các mức phạt đối với DN không ký HĐLĐ khi có đủ điều kiện, trốn đóng BHXH hoặc kéo dài thời gian đào tạo nghề không cần thiết để sử dụng lao động. Ngoài tiền phạt, DN còn có thể bị truy thu BHXH, bồi thường thiệt hại nếu có tai nạn lao động xảy ra và trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Từ góc độ chính sách, việc hoàn thiện khung pháp lý để hoạt động đào tạo nghề vận hành minh bạch là cần thiết. Hiện nay, việc phân định giữa đào tạo nghề và lao động phần lớn dựa trên thực tiễn thanh tra chứ chưa có hướng dẫn cụ thể và chi tiết. Việc ban hành tiêu chí rõ ràng hơn sẽ giúp DN dễ áp dụng và tranh chấp hơn. Bên cạnh đó, việc xây dựng mẫu thỏa thuận đào tạo nội bộ thống nhất cũng giúp giảm sai sót và tạo khung pháp lý rõ ràng để DN và người tham gia hiểu đúng nghĩa vụ của mình. Các quy định liên quan đến thuế đối với hỗ trợ cho người học nên được làm rõ để tránh tình trạng mỗi cơ quan thuế địa phương giải thích một kiểu. Nhà nước cũng nên khuyến khích DN mua bảo hiểm tai nạn cho người tham gia nhằm bảo vệ cả DN lẫn người người tham gia khi xảy ra rủi ro. Ngoài ra, một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa nhà trường và DN trong hoạt động thực tập cũng giúp tăng chất lượng đào tạo và tạo thống nhất trong việc đánh giá kết quả thực tập sinh.

Khi DN áp dụng đào tạo nghề đúng bản chất, các hình thức này sẽ trở thành công cụ chiến lược giúp DN phát hiện và phát triển nhân sự. Nhưng nếu sử dụng chúng để kéo dài thời gian đào tạo hoặc che giấu quan hệ lao động, DN không chỉ đối mặt với rủi ro pháp lý mà còn làm suy giảm uy tín tuyển dụng. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất và tuân thủ pháp luật không chỉ bảo vệ DN mà còn góp phần xây dựng một thị trường lao động minh bạch và bền vững hơn.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.

 

 

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Một căn nhà, hai nỗi mệt và một điều không ai nói ra

 

Một căn nhà, hai nỗi mệt và một điều không ai nói ra

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Tôi đã thuê người giúp việc không dưới vài chục lần trong hơn 20 năm qua. Con số đó không phải để khoe trải nghiệm, mà để thú nhận một điều hơi buồn. Tôi đã nhiều lần đi tìm một công thức bình yên cho căn nhà, và mỗi lần tưởng như nắm được rồi lại tuột mất. Thuê người giúp việc không giống thuê một dịch vụ. Nó giống như bước vào một mối quan hệ sống chung, mà sống chung thì có phần người, phần kỳ vọng, phần ranh giới và phần im lặng. Người ngoài thường nghĩ nỗi khổ luôn nằm ở phía người giúp việc vì họ vất vả. Đúng là vất vả thiệt, nhưng chủ nhà cũng có cái khổ rất riêng. Khổ kiểu không dám than vì sợ mang tiếng có điều kiện mà còn kêu ca, khổ kiểu vừa trả tiền vừa ngại mở miệng, khổ kiểu sống trong nhà của mình mà phải cân đo từng câu như đang họp đối tác. Càng thuê nhiều lần, tôi càng thấy cái khó nhất không nằm ở chỗ ai đúng ai sai, mà nằm ở chỗ cả hai đều là người, đều mệt, và đều đang cố giữ cho đời mình khỏi rơi.

Nỗi khổ đầu tiên là niềm tin vì nhà không phải văn phòng. Ở đó có thói quen, bí mật, giấy tờ, trẻ con, người già, và những thứ mình không muốn giải thích. Tôi từng chứng kiến cảnh người giúp việc lau bàn làm việc vô tình gạt một xấp giấy quan trọng rơi xuống rồi xếp lại sai thứ tự. Chuyện nghe nhỏ, nhưng với người làm nghề luật như tôi, thứ tự đôi khi là cả một vụ việc và thế là tôi bắt đầu cẩn trọng. Tôi không dám để laptop trên bàn, không dám để giấy tờ ở kệ mở, không dám bỏ chìa khóa xe quá lộ liễu. Người ngoài có thể gọi đó là đa nghi, còn tôi gọi đó là bệnh nghề nghiệp kéo dài vào đời sống. Và nỗi lo ấy khiến căn nhà đôi khi không còn là nơi thả lỏng.



Nhưng nếu đứng về phía người giúp việc, tôi lại thấy họ cũng khổ vì niềm tin. Họ bước vào nhà người khác với cảm giác bị soi vì mỗi cái ly đặt lệch, mỗi vệt nước trên bếp, mỗi chiếc áo treo chưa đúng móc đều có thể bị đánh giá. Tôi từng nghe họ nói sợ nhất là chủ nhà im lặng, vì im lặng nghĩa là đang khó chịu. Mà trong công việc này, khó chịu có thể đồng nghĩa với ngày mai bị cho nghỉ việc. Có những người giúp việc làm trong một căn nhà đẹp, nhưng tâm lý lại như đi trên sàn kính, sợ trượt, sợ vỡ, sợ một câu nói lạnh lùng.

Rồi lại đến “kỳ vọng” vì việc nhà là thứ không có đáy. Hôm nay lau nhà, ngày mai lau kính, giặt đồ, nấu cơm, đón con, ngày kia phát sinh khách khứa, chén bát tăng gấp đôi, bếp kéo dài đến khuya. Chủ nhà nhìn thấy một căn nhà cần vận hành, còn người giúp việc lại nhìn thấy một danh sách vô hạn. Hai bên đều có lý, và vì đều có lý nên mâu thuẫn dễ xảy ra.

Ở đây có người nói rằng chủ nhà trả tiền thì có quyền đòi hỏi. Đúng, chủ nhà có quyền nhưng đòi hỏi theo kiểu rõ ràng, tôn trọng, có giới hạn thì là quyền chính đáng. Còn đòi hỏi theo kiểu hôm nay thích thế này, mai đổi thế kia, hôm kia lại bảo sao chưa tự biết, thì không còn là quyền mà là sự tùy tiện. Mà tùy tiện, trong một mối quan hệ sống chung, là thứ làm người ta mệt và làm tình cảm bị bào mòn.

Tôi từng nghĩ giải pháp là phải làm bài bản ngay từ đầu, đưa cho người giúp việc một bảng mô tả công việc rõ ràng. Nhưng đời lại có nghịch lý của riêng nó vì nhiều người giúp việc thấy tờ giấy ấy là sợ, vì họ nhìn nó như một tờ nội quy. Chưa đọc hết đã thấy ngợp, thấy mình bị trói bởi quy định, thấy mình bước vào một nơi mà từng hành động nhỏ cũng có thể bị chấm điểm. Có người cười gượng rồi nói để em về suy nghĩ thêm, cũng có người im lặng rồi hôm sau không tới nữa. Tôi bối rối và tự hỏi mình muốn rõ ràng để đỡ mệt về sau, mà lại vô tình làm người ta chùn bước ngay từ đầu.

Nhưng nếu không đưa mà chỉ nói miệng, vừa làm vừa chỉnh, thì lại rơi vào vòng luẩn quẩn của hiểu lầm. Mình tưởng người giúp việc hiểu, còn họ lại tưởng mình dễ. Mình nhắc nhiều lần thì bị xem khó tính, còn không nhắc thì trong lòng ấm ức và ở đây chính là cái khổ của chủ nhà. Muốn tử tế mà vẫn phải quản trị, muốn công bằng mà lại sợ mang tiếng tính toán, muốn nhà yên mà lại phải tốn năng lượng vào những thứ lẽ ra không đáng tốn.

Ranh giới giữa tình và tiền là nỗi khổ kế tiếp, và đây cũng là cái bẫy ngọt ngào nhất. Chủ nhà thương, người giúp việc cũng thương, rồi cái thương đó biến thành kỳ vọng. Chủ nhà nghĩ mình tốt thì người giúp việc sẽ tự hiểu mà làm thêm chút. Người giúp việc lại nghĩ mình đã làm thêm thì chủ sẽ tự hiểu mà tăng thêm chút lương. Hai cái tự hiểu ấy đi ngang nhau, và thế là không ai hiểu ai.

Tôi đã trải qua chuyện ứng lương. Người giúp việc xin ứng vì quê có việc, mình gật rồi lần sau lại xin ứng, mình lại gật. Có lúc tôi không còn nhớ mình đang trả lương hay đang cứu trợ định kỳ. Nói ra thì ngại, nhưng không nói thì trong lòng chật lại. Còn người giúp việc, họ cũng có nỗi khổ rất thật. Nghèo không chỉ là thiếu tiền tháng này, mà là luôn có một cái hố ở quê chờ mình lấp. Con đi học, bố mẹ bệnh, mái nhà dột, thuốc men, giỗ chạp. Chủ nhà nhìn thấy một khoản ứng, nhưng người giúp việc nhìn thấy một phép thở để sống tiếp. Nếu không đặt mình vào nhau một chút, rất dễ kết luận rằng bên kia tham hoặc bên kia keo, trong khi nhiều khi chỉ vì bên nào cũng đang chật vật theo cách khác.

Sự khác biệt về nếp sống lại tạo thêm va đập. Cái bàn ăn nhà tôi cần sạch theo kiểu nhìn vào là muốn ngồi xuống, nhưng có người giúp việc lại lau theo kiểu cảm giác sạch là được. Hai định nghĩa khác nhau, và không ai nghĩ mình sai. Tôi góp ý thì họ nghe, nhưng làm vài hôm họ lại trở về thói quen cũ. Tôi thấy mình dần giống như một người quản lý khó tính, còn họ thấy tôi dần giống như một người chủ soi mói. Cả hai đều không muốn trở thành nhân vật đó, nhưng hoàn cảnh đẩy tới.

Rồi có một chuyện khiến tôi vừa bực vừa thương, đó là chuyện điện thoại. Nhiều người giúp việc nói chuyện bằng loa ngoài, âm lượng như đang họp nhóm. Cả nhà nghe trọn vẹn câu chuyện của bên kia, từ chuyện thiếu tiền, con cái, hàng xóm, ruộng vườn, cho đến chuyện ai giận ai, ai cãi ai, ai bệnh. Có hôm tôi đang làm việc mà trong nhà vang lên tiếng kể lể, tiếng thở dài, tiếng trách móc và tôi cảm thấy nhà mình bỗng thành một sân khấu không mua vé. Tôi khó chịu không phải vì ghét họ, mà vì sự ồn ào ấy kéo cả căn nhà ra khỏi nhịp riêng của nó.

Nhắc thì ngại, nhưng không nhắc thì không chịu nổi. Và cái làm tôi mềm lòng nhất lại là khi tôi hỏi thăm họ một câu rất bình thường, thì cánh cửa tâm tư mở ra như nước tràn. Họ kể cả ngày chưa hết về gia cảnh. Kể không phải để làm phiền, mà vì trong đời họ có ít người để kể. Chủ nhà hỏi thăm một chút, họ xem đó là một cái phao và cũng là nơi xả căng thẳng. Và khi đã bám vào phao, họ bám rất chặt, như sợ buông ra thì lại chìm.

Ở đây tôi nhìn thấy một điều khiến mình lặng đi. Nhiều người giúp việc không xem công việc này là nghề, mà là nghiệp họ phải nhận lấy. Không phải nghĩa mê tín, mà là cảm giác đời họ bị xô vào một công việc không ai mơ ước từ nhỏ. Không ai lớn lên rồi nói con muốn làm người giúp việc. Họ làm vì ruộng vườn không đủ, quê ít việc, con cần tiền học, nhà cần tiền thuốc. Họ sống trong mặc cảm âm thầm rằng mình đang làm việc, ăn cơm, nghỉ ngơi, nghe tiếng cười trong gia đình người khác. Và mặc cảm ấy đôi khi biến thành sự im lặng chịu đựng, hoặc thành nói rất nhiều, như để chứng minh rằng họ cũng có đời sống, câu chuyện, nỗi đau, chứ không phải chỉ là một đôi tay lau nhà.

Cao trào thường không đến từ chuyện to mà nó đến từ sự tích tụ những chuyện nhỏ. Một lần trễ giờ, một lần quên tắt bếp, một lần nói điện thoại quá lâu, hay một lần làm rơi cái chén. Rồi đến một ngày, một chuyện nhỏ chạm đúng dây thần kinh mệt mỏi của chủ nhà, và chủ nhà nói một câu quá tay. Hoặc một câu nhắc nhở lại chạm đúng mặc cảm của người giúp việc, và họ im lặng, thu dọn đồ rồi xin nghỉ.

Tôi đã từng trải qua một buổi tối như thế. Nhà có khách đến bất ngờ, tôi về muộn, còn người giúp việc cũng mệt vì cả ngày phải nấu nướng phục vụ khách và xoay xở thay tôi. Tôi bước vào nhà, thấy căn bếp lộn xộn, cái thớt còn dính mùi cá, cái nồi để quên chưa ngâm. Tôi không nén được, nói một câu kiểu như em làm vậy sao được. Tôi không chửi, nhưng giọng tôi lạnh và cái lạnh đó mới đáng sợ. Người giúp việc đứng yên, rồi nói nhỏ anh ơi em cũng là người. Câu đó như tạt nước vào mặt làm tôi đứng sững, vì đúng. Họ là người và tôi cũng là người và cả hai người đều mệt gặp nhau, ai cũng nghĩ mình đang gánh nhiều hơn.

Đêm đó tôi không ngủ được. Không phải vì cái thớt, mà vì tôi nhận ra rằng căn nhà, cái nơi tôi muốn bình yên nhất, lại có thể trở thành nơi mình vô tình làm người khác tổn thương. Và nếu muốn công bằng, tôi cũng phải nói thẳng để khỏi bị phản biện một chiều. Tôi đã gặp những người giúp việc thiếu trung thực, có người làm cẩu thả, có người bỏ việc đột ngột. Tôi đã phải thay người, không phải vì tôi thích, mà vì tôi không thể đặt sự an toàn của gia đình vào một cuộc thử nghiệm. Nhưng nếu chỉ dừng ở chuyện bên kia sai, thì mọi thứ sẽ trở thành một vòng lặp cay đắng. Trong một thị trường thiếu đào tạo bài bản cho công việc chăm sóc gia đình, trong bối cảnh người giúp việc đến từ những vùng quê ít cơ hội, còn chủ nhà sống trong nhịp đô thị căng và nhanh, thứ thiếu nhất không hẳn là thiện chí, mà là một chuẩn mực chung và một cách làm văn minh. Để người giúp việc có thể xem đây là một nghề đích thực, còn chủ nhà có thể an tâm trong chính căn nhà của mình.

Tôi bắt đầu hóa giải mọi thứ bằng một cách làm rõ ràng nhưng không làm người ta sợ. Vẫn cần một bảng mô tả công việc, nhưng không đưa như nội quy mà đưa như một lời hẹn. Tôi cũng không đưa tất cả ngay ngày đầu mà chỉ đưa những thứ cốt lõi trước như giờ giấc, việc chính, việc liên quan đến trẻ con, các nguyên tắc an toàn trong bếp, các nguyên tắc về riêng tư. Còn những thứ lặt vặt thì vừa làm vừa thống nhất. Như vậy người giúp việc không bị choáng, và chủ nhà cũng không ảo tưởng rằng viết ra là xong, vì sống chung luôn là một quá trình.

Tôi tập góp ý theo kiểu hướng dẫn hơn là phán xét. Nói cụ thể, nói một việc một lần, nói kèm lý do, và cố gắng không dùng giọng lạnh lùng và một nụ cười khẽ trên môi. Tôi cũng học cách khen đúng lúc, không phải để lấy lòng, mà để công nhận công sức. Người giúp việc sống bằng lương, nhưng nhiều khi họ ở lại vì cảm giác được tôn trọng.

Tôi cũng cho họ quyền được nói. Nếu có việc riêng thì báo sớm, nếu mệt thì nói, còn nếu thấy việc quá tải thì nói để sắp xếp lại. Khi họ được phép nói, họ sẽ bớt phải đánh cược bằng cách im lặng rồi nghỉ đột ngột. Chuyện điện thoại cũng vậy, tôi thống nhất như một thói quen chung, chứ không phải một sự cấm đoán. Trong nhà có lúc tôi làm việc nên cần yên tĩnh, vậy thì em nói nhỏ, không mở loa ngoài, hoặc nói ở khu vực nào đó. Tôi cũng tự nhắc mình rằng đôi khi cho họ mười phút trút ra còn rẻ hơn một tháng mình khó chịu. Nhưng nghe cũng phải có ranh giới. Nghe một đoạn, hỏi một câu gọn, rồi chốt lại rằng anh hiểu, em giữ sức, còn giờ anh cần yên tỉnh để làm việc. Ranh giới không làm người ta lạnh đi mà ranh giới giúp cả hai không bị ngộp.

Và quan trọng hơn hết là ranh giới của sự riêng tư. Khu vực nào không vào khi không cần. Thời điểm nào gia đình cần riêng, chuyện nào không đưa ra ngoài. Chủ nhà muốn riêng tư, người giúp việc cũng muốn danh dự. Ranh giới mà rõ, cả hai đều được bảo vệ, và sự nghi ngờ cũng bớt có đất sống.

Tôi không dám nói mình đã giải được bài toán khó nhằn này. Tôi chỉ biết có lần tôi ngồi xuống, xin lỗi người giúp việc vì giọng điệu mình hôm trước, rồi hỏi rằng em thấy cách làm nào hợp hơn để cả hai đỡ mệt không. Họ im một lúc rồi nói anh bớt la em trước mặt người khác là được và tôi gật. Tôi cũng nói lại rằng em báo trước nếu có việc về quê, đừng để anh rơi vào cảnh trở tay không kịp và họ cũng gật. Từ đó mọi thứ không hoàn hảo, nhưng êm hơn. Nhà không còn là nơi hai người mệt mỏi làm nhau tổn thương, mà là nơi cả hai cố giữ một trật tự tối thiểu để thở.

Sau hàng chục lần thuê người giúp việc, câu hỏi còn đọng lại trong tôi không phải là làm sao để có người hoàn hảo. Câu hỏi là khi thuê người giúp việc, chúng ta đang thuê công việc hay đang mượn một phần đời của người khác để đời mình vận hành. Nếu đúng là mình đang mượn một phần đời của họ, thì hãy đối xử với phần đời ấy thế nào để vừa giữ được nề nếp gia đình mình, vừa không làm người kia cảm thấy mình đang sống một kiếp nghiệp trong căn nhà xa lạ.

Có những thứ không thể giải bằng tiền, và cũng có những thứ không thể giải chỉ bằng lòng tốt. Có lẽ nó cần một thứ khó hơn cả hai, đó là tôn trọng đi kèm ranh giới. Tôn trọng để người ta thấy mình là người, và ranh giới để cả hai không làm nhau kiệt sức. Tôi vẫn đang học điều đó từng ngày, và có lẽ rất nhiều gia đình thành phố cũng đang học mỗi ngày, trong âm thầm, giữa tiếng chén bát, tiếng trẻ con, và những cuộc điện thoại bật loa ngoài đôi khi dài hơn cả một buổi chiều.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.

 

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Kinh nghiệm làm việc có phải là tiền lương không?

 

Tiền lương có thể được trả bằng kinh nghiệm làm việc không?

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Dư luận thời gian gần đây xôn xao xung quanh một kiểu tuyển dụng nghe quen mà lạ, quen vì đã tồn tại nhiều năm trong một số ngành nghề, lạ vì lần này được nói ra một cách khá trực diện. Trọng tâm của những lời mời gọi này thường không nằm ở vấn đề tiền lương, mà nằm ở cơ hội học hỏi, trải nghiệm và tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp. Những người đồng tình cho rằng đây là một dạng trao đổi tự nguyện, ai thấy phù hợp thì tham gia, ai thấy không phù hợp thì có quyền từ chối. Những người băn khoăn lại đặt câu hỏi liệu rằng một xã hội hiện đại có nên bình thường hóa việc làm việc không gắn liền với tiền lương hay không. Tranh luận vì thế nhanh chóng vượt khỏi phạm vi của một câu chuyện cá nhân, để chạm đến cấu trúc của pháp luật lao động và cách xã hội nhìn nhận giá trị của sức lao động.

Nếu gạt cảm xúc sang một bên, pháp luật lao động Việt Nam tiếp cận vấn đề này bằng một logic khá nhất quán. Bộ luật Lao động 2019 không xuất phát từ câu hỏi ai có thiện chí hay ai có danh tiếng, mà từ câu hỏi bản chất của mối quan hệ là gì. Một người có đang thực sự thực hiện công việc của bên kia hay không, có chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của bên kia hay không, và kết quả công việc đó có được sử dụng cho hoạt động của bên kia hay không. Khi những yếu tố này cùng tồn tại, pháp luật có xu hướng nhìn nhận đây là quan hệ lao động[2], bất kể các bên gọi nó bằng tên gọi gì.



Có thể sẽ có ý kiến phản biện rằng không phải cứ làm một vài việc hỗ trợ là đã hình thành mối quan hệ lao động, và pháp luật cho thấy nó không cực đoan đến mức đó. Thực tế, ranh giới mà luật đặt ra không nằm ở số lượng việc làm, mà nằm ở tính chất của việc làm. Nếu những công việc đó mang tính chất quan sát, học hỏi, thực hành có kiểm soát, phục vụ mục tiêu đào tạo là chính, thì rất khó để xem đó là lao động thuần túy. Nhưng khi các đầu việc được giao lặp đi lặp lại, có các yêu cầu cụ thể, có thời hạn hòa thành, và đặc biệt là được sử dụng trực tiếp cho hoạt động vận hành, thì việc gọi đó là học hỏi đơn thuần sẽ ngày càng thiếu sức thuyết phục.

Điểm mấu chốt của tranh luận ở đây nằm ở khái niệm “tiền lương”. Bộ luật Lao động 2019 không dùng từ lương theo nghĩa thông thường, mà dùng thuật ngữ tiền lương. Điều 90 xác định tiền lương là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Cách định nghĩa này không phải ngẫu nhiên, mà phản ánh tư duy xuyên suốt của luật là “tiền lương” phải là một đại lượng có thể đo được bằng tiền, có thể xác định, ghi nhận và làm căn cứ cho các nghĩa vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Điều 96 tiếp tục củng cố tư duy đó khi quy định phương thức trả lương theo hướng tiền lương sẽ được trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Quy định này không nhằm cứng nhắc hóa mối quan hệ lao động, mà nhằm bảo đảm tính minh bạch và khả năng kiểm soát. Kinh nghiệm, cơ hội hay môi trường làm việc tốt có thể là giá trị bổ sung, nhưng chúng không thể thay thế cho tiền lương trong cấu trúc pháp lý của mối quan hệ lao động.

Một phản biện thường gặp cho vấn đề này là pháp luật vẫn cho phép học nghề, tập nghề không hưởng lương. Điều này đúng, nhưng không phải theo nghĩa mở như thế. Pháp luật cho phép học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp trong một thời gian nhất định và với điều kiện rõ ràng. Khi người học nghề bắt đầu tham gia trực tiếp làm ra sản phẩm đạt quy cách, tức là sản phẩm được sử dụng cho hoạt động của bên tuyển dụng, thì nghĩa vụ trả lương sẽ phát sinh. Nói cách khác, luật không cấm việc học hay tập nghề không lương, nhưng cũng không cho phép kéo dài tình trạng không lương khi bản chất của nó đã chuyển sang làm việc  ra giá trị.

Có ý kiến cho rằng trong các ngành cần chuyên môn cao hay có tính chất sáng tạo, rất khó xác định thế nào là sản phẩm đạt quy cách, vì nhiều thứ mang tính ý tưởng, hỗ trợ hoặc chuẩn bị. Đây là một phản biện có cơ sở, và chính vì vậy pháp luật không đi vào một danh mục cứng, mà nhìn vào việc kết quả của công việc có được sử dụng hay không. Khi một đầu việc giúp dự án chạy, giúp quyết định được đưa ra, giúp quy trình được hoàn tất, thì dù hình thức của nó là ghi chép, tổng hợp hay hỗ trợ gì đó, bản chất tạo ra giá trị vẫn hiện hữu.

Một điểm khác cũng ít được nhắc tới trong các tranh luận cảm tính là hệ quả đối với các loại bảo hiểm bắt buộc và thuế. Hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc được xây dựng trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng. Nếu không có số tiền lương cụ thể, thì không có cơ sở pháp lý để đóng bảo hiểm. Điều này không chỉ là vấn đề tuân thủ của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi dài hạn của người làm việc. Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân cũng cần thu nhập có khả năng định lượng bằng tiền để tính ra số thuế phải trả. Kinh nghiệm hay cơ hội là những giá trị rất khó định giá theo chuẩn mực pháp lý, khiến việc kê khai và khấu trừ sẽ trở nên mơ hồ. Ở góc độ quản trị rủi ro, đây là một vùng xám mà cả hai bên đều dễ bị tổn thương.

Cũng cần nói thêm rằng bài toán này không phải chỉ có hai màu trắng đen. Pháp luật lao động không nhằm triệt tiêu cơ hội vào nghề hay phủ nhận vai trò của trải nghiệm. Vấn đề nằm ở cách thiết kế mối quan hệ sao cho đúng với bản chất của nó. Nếu mục tiêu chính là đào tạo, doanh nghiệp nên xây dựng một chương trình đào tạo đúng nghĩa, có thời hạn rõ ràng, nội dung học cụ thể thông qua giáo trình, người hướng dẫn thực sự, và giới hạn phạm vi công việc ở mức học hỏi. Khi người tham gia bắt đầu tạo ra sản phẩm đầu ra được sử dụng, cần có cơ chế chuyển tiếp sang trả tiền lương phù hợp.

Nếu mục tiêu là có người làm việc để vận hành, dù ở quy mô nhỏ hay trong một thời gian ngắn, thì việc trả tiền lương bằng tiền, ở mức phù hợp, vẫn là lựa chọn an toàn và tử tế nhất. Pháp luật lao động cho phép nhiều hình thức trả lương linh hoạt, nên không nhất thiết phải là mức cao. Một khoản trả minh bạch nhưng cao hơn mức lương tối thiểu vùng, dù khiêm tốn, thường tạo ra sự tôn trọng và ổn định hơn nhiều so với một lời hứa khó kiểm chứng.

Từ góc độ doanh nghiệp, cách ứng xử khôn ngoan trong những tình huống như vậy không phải là tìm cách né luật, mà là đi đúng trong khuôn khổ của pháp luật với sự chia sẻ hợp lý. Minh bạch ngay từ đầu về bản chất công việc, quyền lợi và giới hạn kỳ vọng giúp giảm đáng kể xung đột về sau. Ngay cả trong các chương trình học nghề, tập nghề hoặc thực tập, việc có hỗ trợ tối thiểu về chi phí sinh hoạt cũng thể hiện sự thấu hiểu và tôn trọng công sức người mới vào nghề bỏ ra.

Ở góc độ dài hạn, cách doanh nghiệp đối xử với người mới vào nghề chính là một phần của văn hóa và thương hiệu tuyển dụng. Một mô hình vào nghề rõ ràng, minh bạch và nhân văn không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý, mà còn góp phần xây dựng một thị trường lao động lành mạnh hơn.

Nói một cách nhẹ nhàng, nếu một thỏa thuận nghe có vẻ rất truyền cảm hứng nhưng lại không thể trả qua ngân hàng, không thể làm căn cứ đóng các loại bảo hiểm bắt buộc, không thể kê khai thuế, không thể đưa vào chi phí hợp lệ của doanh nghiệp thì đó là dấu hiệu cho thấy thỏa thuận ấy đang đứng ngoài vùng an toàn của pháp luật. Và trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng trưởng thành, sự minh bạch dù kém lãng mạn, lại thường là lựa chọn thấu tình đạt lý nhất cho cả người trao cơ hội lẫn người nắm lấy cơ hội.

 Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.


[2] Điều 3 Bộ luật lao động 2019

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: khi quá khứ bị gọi tên thêm một lần

  Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: khi quá khứ bị gọi tên thêm một lần (Luật sư Nguyễn Hữu Phước) Ly hôn nhiều khi không ồn ào mà giống nh...