Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Khám sức khỏe để làm gì?

 

Khám sức khỏe để làm gì?

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Vài ngày gần đây, tôi có dịp đi khám sức khỏe để hoàn tất thủ tục liên quan đến việc gia hạn giấy phép lái xe ô tô. Tôi đến một cơ sở y tế có chức năng khám sức khỏe, có con dấu tròn, đóng vài trăm nghìn đồng, nhận bộ hồ sơ rồi lần lượt đi qua các khoa theo hướng dẫn. Điều khiến tôi ngạc nhiên là mọi việc diễn ra rất nhanh, mỗi khoa chỉ chừng một, hai phút, có nơi hỏi vài câu qua loa về bệnh nền, tôi trả lời, thông tin được ghi vào biểu mẫu, một số chỉ số được kiểm tra, bác sĩ ký rồi tôi lại cầm hồ sơ sang phòng tiếp theo. Nhanh, gọn, thuận tiện, gần như không có gì để phàn nàn về mặt thủ tục, nhưng chính vì mọi việc trôi qua quá nhanh nên khi cầm giấy khám sức khỏe trên tay, tôi lại chợt tự hỏi: mình vừa thực sự được khám sức khỏe, hay vừa hoàn thành một quy trình để có giấy chứng nhận sức khỏe?

Tôi không phải bác sĩ và cũng không cho rằng cứ khám 1–2 phút là sai hoặc kém chất lượng, bởi có những chỉ số đơn giản hoàn toàn có thể được kiểm tra trong thời gian ngắn; một cơ sở y tế tổ chức tốt cũng có thể rút ngắn đáng kể thời gian chờ đợi mà vẫn bảo đảm chất lượng chuyên môn. Có thể nơi tôi khám đã thực hiện đầy đủ những gì quy trình yêu cầu, và tôi cũng không có cơ sở để nói ngược lại. Nhưng chính điều đó lại khiến câu hỏi trở nên đáng suy nghĩ hơn: nếu tất cả đều làm đúng quy trình mà người được khám vẫn khó biết kết quả ấy phản ánh tình trạng sức khỏe của mình chính xác đến đâu, có lẽ vấn đề không nhất thiết nằm ở bác sĩ hay cơ sở y tế, mà nằm ở chính cách chúng ta thiết kế một thủ tục vốn được xã hội trao cho giá trị rất lớn.

Một buổi khám phải đi qua nhiều khoa, nhưng tổng chi phí chỉ vài trăm nghìn đồng thì khó có thể cùng lúc đáp ứng 3 yêu cầu: nhanh, rẻ và đủ sâu để phát hiện nhiều bệnh lý tiềm ẩn. Khoản phí ấy còn phải trang trải tiền công bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hành chính, thiết bị, nguyên vật liệu, mặt bằng và nhiều chi phí vận hành khác; vì thế, không thể kỳ vọng một buổi khám hành chính như vậy có giá trị tương đương một lần kiểm tra sức khỏe toàn diện với xét nghiệm và chẩn đoán chuyên sâu. Điều đáng nói hơn là một phần thông tin về bệnh sử lại được thu thập từ chính lời khai của người đang cần được chứng nhận là “đủ sức khỏe”, và ở đây bắt đầu xuất hiện một khoảng trống mà bất kỳ hệ thống quản lý nào cũng nên tính đến.

Người được khám có thể thật sự không biết mình đang mắc bệnh, bởi nhiều bệnh ở giai đoạn đầu ít biểu hiện và chỉ được phát hiện khi xét nghiệm hoặc kiểm tra chuyên sâu, nhưng cũng có khả năng họ biết mà không khai. Động cơ của việc che giấu này không khó hiểu, bởi người đi khám sức khỏe để hoàn thành thủ tục hành chính thường không đến vì muốn tìm bệnh, họ đến vì cần một kết luận thuận lợi để xin việc, làm hoặc gia hạn giấy phép lái xe, điều khiển tàu thuyền hay hoàn tất một điều kiện pháp lý nào đó; nếu việc khai một bệnh nền có thể khiến phải khám thêm, mất thời gian và tốn kém hơn hoặc thậm chí không đạt điều kiện, sẽ luôn tồn tại khả năng một số người lựa chọn im lặng. Vì thế, nếu hệ thống tin rằng người dân có thể tự khai trung thực thì có thể cân nhắc cho họ tự khai và chịu trách nhiệm pháp lý về lời khai; còn nếu cho rằng tự khai chưa đủ đáng tin nên phải có bác sĩ xác nhận thì cuộc khám phải tạo thêm một tầng kiểm chứng độc lập và có ý nghĩa. Điều khó hiểu nhất chính là trạng thái ở giữa: người dân không được tự khai để hoàn tất thủ tục, nhưng bác sĩ lại phải dựa một phần vào chính lời khai ấy để cấp giấy xác nhận.

Nghịch lý càng rõ hơn sau khi tờ giấy được ký và đóng dấu. Quá trình tạo ra thông tin có thể chỉ diễn ra vài phút ở mỗi khoa, nhưng khi bước ra khỏi cơ sở y tế, kết quả ấy lập tức được trao một giá trị đáng kể. Cơ quan cấp giấy phép lái xe không thể khám lại từng người nộp hồ sơ, doanh nghiệp tuyển dụng cũng không thể kiểm chứng từng kết luận chuyên môn, vì thế, họ có lý do chính đáng để tin vào giấy chứng nhận do một cơ sở y tế có thẩm quyền cấp. Nói cách khác, đầu vào có thể có độ xác thực giới hạn nhưng đầu ra lại được sử dụng với mức độ tin cậy rất cao, hay nói ngắn gọn hơn là tình trạng “khám nhẹ nhưng tin nặng”.



Hãy lấy thị lực làm một ví dụ dễ hình dung. Cận thị tự nó không đồng nghĩa với việc không đủ điều kiện lái xe, bởi một người bị cận nhưng được điều chỉnh bằng kính và đạt chuẩn thị lực vẫn có thể lái xe an toàn. Nhưng giả sử một người có thị lực thực tế không đạt yêu cầu, khai báo không đúng, việc kiểm tra vì lý do nào đó không phát hiện và cuối cùng vẫn được xác nhận đủ sức khỏe; sau đó người ấy gây tai nạn mà nguyên nhân có liên quan trực tiếp đến khả năng quan sát thì trách nhiệm sẽ nằm ở đâu? Người lái xe trước hết phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và việc cố tình khai gian, nếu có, nhưng cơ sở y tế đã kiểm tra và xác nhận thì trách nhiệm chuyên môn đến đâu, còn cơ quan cấp phép, vốn không có chức năng y khoa và không thể khám lại hàng triệu người, có thể làm gì khác ngoài việc tin vào một giấy chứng nhận hợp lệ?

Câu chuyện còn có thể phức tạp hơn khi doanh nghiệp bảo hiểm xuất hiện sau khi tai nạn xảy ra. Không thể nói cứ giấy khám sức khỏe có sai sót thì bảo hiểm đương nhiên được quyền từ chối chi trả, bởi bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và bảo hiểm vật chất xe có cơ chế pháp lý khác nhau, quyền lợi của người thứ ba bị thiệt hại cũng cần được bảo vệ, còn việc có chi trả, giảm chi trả hay phát sinh quyền yêu cầu hoàn trả sẽ phụ thuộc vào pháp luật, hợp đồng, lỗi và quan hệ nhân quả trong từng trường hợp. Tuy nhiên, nếu một người cố tình che giấu tình trạng sức khỏe, giấy chứng nhận không phản ánh đúng thực tế và tai nạn lại có liên quan đến chính tình trạng đó, thì nguy cơ phát sinh tranh chấp là hoàn toàn có thể xảy ra. Khi ấy, một tờ giấy chỉ đáng vài trăm nghìn đồng có thể kéo theo năm chủ thể gồm người lái xe, nạn nhân, cơ sở y tế, cơ quan cấp phép và doanh nghiệp bảo hiểm; người lái nói mình có bằng hợp lệ và đã được xác nhận đủ sức khỏe, cơ quan cấp phép nói hồ sơ có giấy chứng nhận hợp lệ, cơ sở y tế có thể nói người khám không khai bệnh hoặc tại thời điểm khám không phát hiện bất thường, còn doanh nghiệp bảo hiểm lại xem xét điều kiện hợp đồng và nguyên nhân tai nạn. Mỗi bên đều có lý lẽ của mình, chỉ có người bị tai nạn là chưa từng tham gia vào bất kỳ khâu nào trước đó.

Nếu câu chuyện chỉ là vài trăm nghìn đồng tôi vừa trả thì có lẽ chẳng đáng để bàn, nhưng hãy nhân khoản tiền đó với số người đi xin việc, làm hoặc gia hạn giấy phép lái xe, tàu thuyền và những thủ tục khác cần giấy khám sức khỏe mỗi năm, rồi cộng thêm tiền đi lại, thời gian chờ đợi và số giờ lao động bị mất, chi phí xã hội sẽ không còn nhỏ. Một khoản tiền nhìn riêng lẻ có vẻ không đáng kể, nhưng khi lặp lại hàng triệu lần lại trở thành một nguồn lực rất lớn, nhất là khi người dân thường phải tự chi trả cho loại dịch vụ phục vụ thủ tục hành chính này.

Còn một chi phí khác khó nhìn thấy hơn là thời gian của hệ thống y tế. Một bác sĩ dành một, hai phút cho một người nghe có vẻ chẳng đáng bao nhiêu, nhưng hàng triệu lần một, hai phút là bao nhiêu giờ làm việc của bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế, bao nhiêu thời gian sử dụng phòng khám và thiết bị? Trong khi đó, Chính phủ đang triển khai chủ trương khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc cho người dân trên phạm vi rộng, hướng đến việc phát hiện bệnh sớm, phòng bệnh và quản lý sức khỏe lâu dài. Đây là một chủ trương đáng ủng hộ, nhưng cũng đòi hỏi một nguồn lực y tế và ngân sách rất lớn, vì vậy càng có lý do để rà soát các cuộc khám sức khỏe hành chính nhằm tránh việc cùng một người được hệ thống y tế khám nhiều lần nhưng các kết quả lại không được kết nối với nhau.

Nếu một người vừa được Nhà nước khám sức khỏe định kỳ miễn phí, đã có những thông tin và chỉ số phù hợp còn giá trị, thì tại sao vài tháng sau lại phải đến một cơ sở y tế khám lại chỉ để lấy một mẫu giấy khác? Với sự đồng ý của người dân và cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân chặt chẽ, những kết quả phù hợp hoàn toàn có thể được tái sử dụng, còn những tiêu chí đặc thù cho lái xe hay một nghề nghiệp nhất định thì chỉ cần kiểm tra bổ sung. Nếu không làm được điều đó, chúng ta có thể đứng trước một nghịch lý: Nhà nước huy động một nguồn lực lớn để khám sức khỏe thật cho người dân, còn người dân vẫn tiếp tục bỏ thêm tiền và hệ thống y tế vẫn tiếp tục bỏ thêm thời gian để khám lại nhằm tạo ra một giấy chứng nhận phục vụ thủ tục.

Cũng cần nhìn vào cơ chế tài chính của dịch vụ này một cách công bằng. Khám sức khỏe hành chính thường do người dân tự trả tiền, còn khoản thu được hạch toán và sử dụng tùy theo loại hình cũng như cơ chế tài chính của từng cơ sở y tế, vì thế không thể đơn giản kết luận rằng tiền ấy đều đi vào ngân sách, càng không thể quy kết rằng cơ sở y tế có nguồn thu nên cố tình khám hời hợt. Tuy nhiên, một hệ thống quản trị tốt không chỉ nhìn vào ý định của người thực hiện mà còn phải xem xét động lực mà cơ chế đó tạo ra. Nếu nguồn thu tăng theo số lượt khám trong khi khách hàng lại có xu hướng lựa chọn nơi “nhanh, tiện, lấy giấy sớm”, thì về mặt kinh tế có thể hình thành động lực ưu tiên tốc độ và số lượng. Điều đó không chứng minh ai làm sai, nhưng đủ để đặt câu hỏi liệu cơ chế giám sát hiện nay đã chú trọng đúng mức đến chất lượng đầu ra hay chưa, thay vì chỉ kiểm tra cơ sở có đủ điều kiện, giấy tờ có đúng mẫu, bác sĩ có ký và con dấu có đầy đủ hay không.

Lãng phí đôi khi không xuất hiện dưới hình thức một dự án nghìn tỷ đồng mà được hình thành từ hàng triệu thủ tục nhỏ đến mức từng người đều nghĩ “có mất bao nhiêu đâu”. Người dân cần giấy, cơ sở y tế cung cấp dịch vụ và thu phí, cơ quan quản lý nhận đủ thành phần hồ sơ; xét riêng từng mắt xích, mọi thứ đều có vẻ hợp lý, nhưng khi ghép lại, chúng ta vẫn phải hỏi mục tiêu quan trọng nhất là phát hiện những người thực sự không đủ sức khỏe đã đạt được ở mức nào.

Tuy nhiên, giải pháp không nên là bỏ toàn bộ việc khám sức khỏe, bởi một nhân viên văn phòng rõ ràng khác với tài xế xe khách đường dài, người lái ô tô gia đình cũng khác với người điều khiển tàu thủy, xe tải nặng hay phương tiện vận tải công cộng. Rủi ro đối với cộng đồng càng lớn thì tiêu chuẩn sức khỏe càng phải nghiêm ngặt, nhưng chính vì thế, chúng ta nên chuyển từ cách khám đại trà sang quản lý theo mức độ rủi ro. Ở Anh, người lái xe có nghĩa vụ thông báo những tình trạng sức khỏe có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và tùy trường hợp cơ quan quản lý mới yêu cầu thêm thông tin y khoa hoặc đánh giá; New Zealand cũng kết hợp khai báo sức khỏe với yêu cầu chứng nhận y tế trong những trường hợp nhất định, đặc biệt là các nhóm có nguy cơ cao, còn Singapore phân tầng yêu cầu theo độ tuổi, loại giấy phép và tình trạng sức khỏe. Việt Nam không cần sao chép nguyên xi mô hình nào, nhưng có thể tham khảo một nguyên tắc khá hợp lý: không dùng cùng một chiếc lưới cho tất cả mọi người.

Người thuộc nhóm nguy cơ thấp có thể được nghiên cứu cho tự khai sức khỏe điện tử và chịu trách nhiệm pháp lý nếu cố tình che giấu bệnh thuộc diện bắt buộc khai; những gì có thể kiểm tra khách quan và liên quan trực tiếp đến an toàn, như thị lực, thì đừng chỉ hỏi mà hãy đo; khi phát hiện yếu tố nguy cơ mới chuyển sang đánh giá chuyên sâu. Ngược lại, với tài xế chuyên nghiệp, người điều khiển phương tiện vận tải công cộng, tàu thuyền hoặc những nghề mà một sự cố sức khỏe có thể đe dọa nhiều người, việc khám phải đủ sâu, đủ thời gian và có mức chi phí tương xứng, bởi khi ấy xã hội đang thực sự bỏ tiền để mua sự an toàn chứ không phải mua thêm một tờ giấy.

Trách nhiệm cũng phải được đặt đúng chỗ. Người dân chịu trách nhiệm về những bệnh sử mà mình biết nhưng cố tình che giấu, cơ sở y tế chịu trách nhiệm đối với những tiêu chí mà họ trực tiếp kiểm tra và xác nhận, còn cơ quan cấp phép chịu trách nhiệm về việc thiết kế và vận hành một hệ thống đủ an toàn để có thể tin vào dữ liệu đầu vào. Đừng để đến khi tai nạn xảy ra, tờ giấy “đủ sức khỏe” lại trở thành chiếc ô mà tất cả các bên cùng tìm cách đứng dưới.

Sau lần đi khám vừa rồi, điều khiến tôi suy nghĩ không phải là vài trăm nghìn đồng mà mình đã trả. Nếu số tiền và thời gian ấy thực sự giúp phát hiện những người không đủ sức khỏe để lái xe, làm những nghề nguy hiểm và nhờ đó ngăn được tai nạn thì hoàn toàn đáng giá. Nhưng nếu mỗi khoa chỉ một, hai phút, bệnh sử phần nào vẫn dựa vào lời khai, người khám vẫn có khả năng che giấu bệnh, trong khi kết quả cuối cùng lại được xã hội sử dụng như một chứng nhận đáng tin cậy, thì chúng ta nên hỏi lại: giấy khám sức khỏe đang thực sự kiểm soát rủi ro, hay đôi khi chỉ tạo cho chúng ta cảm giác rằng rủi ro đã được kiểm soát?

Có lẽ nguyên tắc cải cách không quá phức tạp: cái gì đo được thì đo thật, cái gì phải khai thì buộc khai trung thực và chịu trách nhiệm, người có nguy cơ thấp thì giảm thủ tục, người có nguy cơ cao thì khám thật kỹ, còn dữ liệu sức khỏe đã có và còn giá trị thì nên được tái sử dụng thay vì bắt người dân làm lại từ đầu. Số hóa, xét cho cùng, không phải là biến tờ giấy thành một file PDF, mà là để người dân không phải đi qua cùng một thủ tục nhiều lần chỉ vì các cơ quan chưa nói chuyện được với nhau.

Và khi cả nước đang cần một nguồn lực y tế rất lớn để sàng lọc, phát hiện bệnh sớm và chăm sóc sức khỏe cho người dân, có lẽ chúng ta càng nên hỏi một câu đơn giản hơn nữa: mỗi giờ của bác sĩ nên được dùng để tạo thêm một chữ ký trên giấy, hay để phát hiện thêm một người đang mang bệnh mà chính họ chưa biết?

Nếu câu hỏi ấy vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục, có lẽ thứ cần được “khám” lại trước tiên không phải là sức khỏe của người dân, mà là sức khỏe của chính thủ tục khám sức khỏe.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.

 

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Đừng để lịch sử chỉ nằm trong sách giáo khoa

 

Đừng để lịch sử chỉ nằm trong sách giáo khoa

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước - Công ty luật Phuoc & Partners)

Có lẽ rất ít phụ huynh bất ngờ khi nghe con mình than: "Con sợ môn Sử". Cũng chẳng ít giáo viên trăn trở khi thấy học sinh thuộc lòng từng mốc thời gian để đi thi, nhưng chỉ vài tuần sau lại gần như quên sạch. Trong nhiều năm, Lịch sử vẫn là một trong những môn học khiến không ít học sinh e ngại, dù lẽ ra đó phải là môn học giúp các em hiểu mình là ai, dân tộc mình đã đi qua những gì và vì sao đất nước này có được ngày hôm nay.

Điều đáng suy nghĩ là cũng chính những học sinh ấy lại có thể nhớ tên các vị vua triều Joseon của Hàn Quốc, thuộc những câu chuyện về samurai Nhật Bản hay kể vanh vách các nhân vật trong phim cổ trang Trung Quốc. Không ai bắt các em học, nhưng các em vẫn nhớ. Có khi nhớ còn lâu hơn cả bài kiểm tra học kỳ. Điều đó cho thấy người trẻ không hề ghét lịch sử, các em chỉ không thích cách lịch sử đang được kể.

Việt Nam có hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Hiếm có dân tộc nào phải trải qua nhiều cuộc chiến bảo vệ độc lập, nhiều biến cố lịch sử và nhiều thời kỳ huy hoàng như chúng ta. Từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ cho đến các cuộc kháng chiến hiện đại, lịch sử Việt Nam là một kho tàng gần như vô tận về lòng quả cảm, trí tuệ, khát vọng tự do và sức sống của dân tộc.

Mỗi triều đại đều có đủ chất liệu để trở thành một tác phẩm điện ảnh hấp dẫn: những trận chiến nghẹt thở, những cuộc đấu trí ngoại giao, những quyết định thay đổi vận mệnh đất nước, những mối tình bị chia cắt bởi chiến tranh, những bi kịch của người cầm quyền và những hy sinh thầm lặng của biết bao người dân vô danh. Vậy tại sao chúng ta vẫn chưa có nhiều bộ phim lịch sử đủ sức khiến hàng triệu khán giả háo hức ra rạp?


Có nhiều nguyên nhân. Trước hết là bài toán về kinh phí. Một bộ phim lịch sử đòi hỏi mức đầu tư lớn hơn rất nhiều so với phim hiện đại. Chỉ riêng việc phục dựng thành quách, doanh trại, tàu thuyền, vũ khí, phục trang, đạo cụ và huy động hàng nghìn diễn viên quần chúng đã tiêu tốn ngân sách khổng lồ. Nếu cộng thêm kỹ xảo, hậu kỳ và thời gian chuẩn bị kéo dài nhiều năm, rủi ro tài chính là yếu tố khiến nhiều nhà đầu tư e ngại.

Nhưng tiền không phải là nguyên nhân lớn nhất. Điều quan trọng hơn nằm ở cách kể chuyện. Không ít bộ phim lịch sử vẫn mang tâm lý "minh họa sách giáo khoa". Người xem có cảm giác như đang xem một bài học lịch sử được chuyển lên màn ảnh thay vì được sống cùng nhân vật. Trong khi đó, khán giả đến rạp không phải để học thuộc niên đại. Họ muốn được xúc động.

Lịch sử chỉ thật sự sống khi người xem cảm nhận được nỗi lo của người lính trước giờ xuất trận, sự giằng xé của một vị tướng khi phải hy sinh một cánh quân để cứu cả đất nước, sự cô độc của một vị vua trước quyết định sinh tử của dân tộc hay tình yêu dang dở của những con người sinh ra trong thời loạn. Khi nhân vật trở thành những con người bằng xương bằng thịt thay vì những bức tượng trên bệ đá, lịch sử sẽ tự nhiên chạm đến trái tim của khán giả.

Nhưng điện ảnh không phải là mắt xích duy nhất. Có lẽ chúng ta cũng cần nhìn lại cách dạy và học lịch sử trong nhà trường. Nhiều học sinh tiếp cận môn Sử bằng những trang sách dày đặc chữ, những mốc thời gian, tên nhân vật và các sự kiện cần ghi nhớ. Trong thời đại mà trẻ em lớn lên cùng video ngắn, đồ họa 3D, trò chơi tương tác và trí tuệ nhân tạo, việc yêu cầu các em chủ yếu học qua văn bản là một thách thức không nhỏ. Sách giáo khoa Lịch sử, vì vậy, cần được thiết kế lại theo hướng trực quan, sinh động và giàu cảm xúc hơn.

Mỗi bài học nên có nhiều hình ảnh phục dựng, bản đồ trực quan, sơ đồ tư duy, tranh minh họa, mô hình 3D và mã QR để học sinh có thể xem ngay một đoạn phim ngắn, phim tài liệu hoặc hoạt hình minh họa. Chỉ một video 3 đến 5 phút được đầu tư nghiêm túc đôi khi có thể giúp học sinh hình dung rõ hơn cả chục trang sách. Quan trọng hơn, nội dung cũng cần được viết lại theo lối kể chuyện thay vì chỉ liệt kê sự kiện. Đằng sau mỗi chiến thắng là những con người thật, những lựa chọn khó khăn, những mất mát và những bài học về lòng dũng cảm, trí tuệ và khát vọng hòa bình. Khi học sinh yêu nhân vật trước, các em sẽ tự tìm hiểu các sự kiện sau đó.

Nếu sách giáo khoa kể một câu chuyện, phim ngắn giúp học sinh hình dung câu chuyện ấy, điện ảnh đưa câu chuyện lên màn ảnh rộng, bảo tàng giúp các em được trải nghiệm và di tích giúp các em chạm vào lịch sử, thì Lịch sử sẽ không còn là môn học để thi nữa mà sẽ trở thành một ký ức đẹp theo các em suốt cuộc đời.

Nhiều quốc gia đã làm rất thành công điều này. Trung Quốc không chỉ làm phim lịch sử để bán vé. Họ biến lịch sử thành một ngành công nghiệp văn hóa. Sau mỗi bộ phim là truyện tranh, trò chơi điện tử, sách, chương trình truyền hình, sản phẩm lưu niệm, tuyến du lịch và những phim trường khổng lồ như Hoành Điếm. Hàn Quốc cũng đi theo con đường ấy. Sau các bộ phim cổ trang về triều đại Joseon, không chỉ cung điện và di tích lịch sử được du khách tìm đến mà còn hanbok, trà đạo, ẩm thực cung đình, kimchi, rượu truyền thống và nhiều giá trị văn hóa khác cũng được quảng bá mạnh mẽ ra thế giới. Điện ảnh đã trở thành một trong những "đại sứ" hiệu quả nhất của họ.

Việt Nam hoàn toàn có thể làm điều tương tự. Một bộ phim về nhà Trần có thể kéo theo sự quan tâm đến Bạch Đằng, Yên Tử, Thiên Trường, võ trận, áo giáp, nghề rèn, gốm, nhạc cụ và lễ hội. Một bộ phim về Huế có thể làm sống lại áo dài, nhã nhạc, ẩm thực cung đình, kiến trúc và các di sản. Một bộ phim về Hội An có thể đánh thức cả một không gian văn hóa từ thương cảng, làng nghề, đèn lồng cho đến những món ăn tưởng quen mà vẫn đủ sức làm mềm lòng du khách quốc tế.

Điều đáng mừng là những tín hiệu tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Việc đạo diễn Victor Vũ gần đây tham gia dòng phim lịch sử [1]và việc Vingroup công bố đầu tư sản xuất các tác phẩm về lịch sử, văn hóa Việt Nam [2] cho thấy lịch sử đang được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, chứ không chỉ là chất liệu hoài niệm. Đặc biệt, sự tham gia của một doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một bộ phim. Khi một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, công nghệ, truyền thông và hệ sinh thái dịch vụ quyết định đầu tư vào lĩnh vực này, câu chuyện không còn chỉ là làm phim, mà là khả năng hình thành một chuỗi giá trị văn hóa.

Một bộ phim lịch sử, nếu thành công, sẽ không chỉ dừng lại ở phòng vé. Nó có thể tiếp tục xuất hiện trong các phim ngắn, tài liệu học đường, triển lãm, sản phẩm lưu niệm, trò chơi điện tử, sách ảnh, podcast, tour du lịch và nhiều hoạt động truyền thông cộng đồng khác. Cùng lúc đó, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng video ngắn đang mở ra một cách kể lại lịch sử hoàn toàn mới. Một đoạn phim 3 phút về trận Bạch Đằng, Chi Lăng hay cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung hôm nay có thể tiếp cận hàng triệu người trẻ trên điện thoại trước khi họ quyết định mua vé xem một bộ phim dài. Nếu ngày trước, lịch sử phải chờ nhiều năm để được kể lại bằng điện ảnh, thì nay lịch sử có thể xuất hiện mỗi ngày trong nhiều định dạng khác nhau.

Nhưng sẽ thiếu thực tế nếu kỳ vọng doanh nghiệp tư nhân một mình gánh vác sứ mệnh ấy. Ở nhiều nước, phim lịch sử luôn nhận được sự đồng hành mạnh mẽ của Nhà nước vì đây không chỉ là sản phẩm giải trí mà còn là công cụ giáo dục, quảng bá hình ảnh quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm. Lợi nhuận của một bộ phim lịch sử không chỉ đo bằng doanh thu phòng vé mà còn bằng lượng khách du lịch, giá trị xuất khẩu văn hóa, niềm tự hào dân tộc và sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử đất nước.

Nếu xác định công nghiệp văn hóa là một động lực tăng trưởng mới, thì điện ảnh lịch sử cần được nhìn nhận như một hạng mục đầu tư chiến lược. TP.HCM đang nghiên cứu một phim trường quy mô khoảng 100-150 ha[3]. Nếu được quy hoạch bài bản và đầu tư đúng tầm, đây hoàn toàn có thể trở thành "Hoành Điếm" của Việt Nam". Nhưng diện tích lớn mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là tư duy phát triển.

Phim trường ấy không nên chỉ là nơi dựng cảnh để quay phim rồi đóng cửa. Nó cần trở thành một tổ hợp công nghiệp văn hóa, tái hiện nhiều giai đoạn lịch sử Việt Nam, từ Văn Lang, Âu Lạc, các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn đến các bối cảnh của các cuộc kháng chiến thời hiện đại. Khi không có đoàn phim, nơi đây vẫn có thể mở cửa đón khách tham quan, học sinh, sinh viên và du khách quốc tế, trở thành một điểm đến du lịch hoạt động quanh năm. Một phim trường như vậy sẽ giúp giảm chi phí sản xuất cho đoàn phim trong nước, thu hút hãng phim quốc tế, tạo việc làm cho lao động sáng tạo và kích thích nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển.

Tuy nhiên, phim trường cũng chỉ là một mắt xích. Muốn lịch sử thật sự bước vào đời sống, Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo tàng lịch sử hiện có. Không ít bảo tàng vẫn còn cách trưng bày truyền thống, chủ yếu là hiện vật trong tủ kính cùng những bảng thuyết minh dài dòng. Đối với nhiều học sinh, một chuyến tham quan bảo tàng đôi khi vẫn giống như một tiết học kéo dài hơn là một trải nghiệm khám phá.

Trong khi đó, bảo tàng hiện đại có thể ứng dụng thực tế ảo, thực tế tăng cường, trình chiếu 360 độ, sa bàn số, màn hình tương tác và trí tuệ nhân tạo. Một học sinh được chứng kiến trận Bạch Đằng bằng công nghệ mô phỏng, được "đứng" trên chiến thuyền của quân Trần hay "đi bộ" trong Hoàng thành Thăng Long bằng kính thực tế ảo chắc chắn sẽ có ấn tượng sâu sắc hơn nhiều so với việc chỉ đọc vài đoạn văn. Vì vậy, cùng với đầu tư cho phim trường, Nhà nước cũng nên tăng ngân sách để từng bước nâng cấp hệ thống bảo tàng lịch sử theo hướng hiện đại, có tính tương tác và thân thiện với giới trẻ. Mỗi bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn phải trở thành một "lớp học lịch sử sống", một điểm đến văn hóa và du lịch của địa phương.

Song song với đó là một hệ thống chính sách đủ mạnh nhưng minh bạch. Những dự án phim lịch sử đáp ứng tiêu chí chất lượng có thể được xem xét ưu đãi về thuế, tín dụng, hạ tầng kỹ thuật; được hỗ trợ phục dựng bối cảnh, phục trang, đạo cụ; được các nhà sử học, chuyên gia quân sự, mỹ thuật, kiến trúc và ngôn ngữ tư vấn ngay từ giai đoạn xây dựng kịch bản. Khâu phát hành cũng rất quan trọng. Một bộ phim lịch sử đầu tư hàng trăm tỷ đồng sẽ rất khó thành công nếu chỉ sau vài ngày đã mất đi phần lớn suất chiếu. Có thể nghiên cứu cơ chế phù hợp để các tác phẩm có giá trị lịch sử và văn hóa có đủ thời gian tiếp cận khán giả, đồng thời triển khai truyền thông trên báo chí, truyền hình, trường học và các nền tảng số, biến mỗi bộ phim thành một sự kiện văn hóa.

Điều quan trọng nhất là phải nhìn tất cả những yếu tố này như một chỉnh thể. Sách giáo khoa giúp học sinh hiểu lịch sử; phim ngắn giúp các em hình dung lịch sử; điện ảnh giúp các em yêu thích lịch sử; bảo tàng giúp các em trải nghiệm lịch sử; di tích giúp các em chạm vào lịch sử; du lịch giúp lịch sử tạo ra giá trị kinh tế; và công nghiệp văn hóa giúp lịch sử Việt Nam bước ra thế giới.

Chúng ta đã đầu tư rất nhiều để xây dựng đường cao tốc, sân bay, cảng biển và các công trình kết nối các vùng đất. Đó là nền tảng cho sự phát triển kinh tế. Có lẽ cũng đã đến lúc đầu tư mạnh mẽ hơn để xây dựng những "cây cầu" kết nối người Việt hôm nay với 4.000 năm lịch sử của chính dân tộc mình.

Biết đâu, khi những đứa trẻ hôm nay lớn lên, các em sẽ không nhớ lịch sử chỉ vì đã từng học thuộc một bài trong sách giáo khoa. Các em sẽ nhớ vì đã từng khóc trong một rạp chiếu phim, xúc động trong một bảo tàng, tự hào khi đứng trên một di tích lịch sử và mỉm cười khi nhìn thấy bạn bè quốc tế nhắc đến Việt Nam bằng chính những câu chuyện mà cha ông chúng ta đã viết nên.

Và khi ấy, câu hỏi sẽ không còn là "Làm thế nào để học sinh yêu môn Lịch sử?" Mà sẽ là: "Sau bộ phim lịch sử tiếp theo của Việt Nam, thế giới sẽ muốn khám phá câu chuyện nào của chúng ta?"

 Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.



[1] https://tuoitre.vn/victor-vu-cong-bo-phim-chien-bao-ve-khoi-nghia-lam-son-tim-nguoi-dong-le-loi-nguyen-trai-100260625140207385.htm

[2] https://tuoitre.vn/khoi-dong-dong-phim-ton-vinh-lich-su-van-hoa-viet-20260528095559668.htm

[3] https://thanhnien.vn/tphcm-nghien-cuu-xay-phim-truong-150-ha-bao-tang-am-nhac-ung-dung-ai-185260407090903131.htm

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026

Quyền riêng tư tại nơi làm việc: Ranh giới mỏng giữa quản trị rủi ro và Tôn trọng nhân phẩm

 

Quyền riêng tư tại nơi làm việc: Ranh giới mỏng giữa quản trị rủi ro và Tôn trọng nhân phẩm

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước - Phó Chủ tịch VNHR)

Trong nhiều năm qua, quyền riêng tư tại nơi làm việc không còn là chủ đề mang tính học thuật mà đã trở thành một thách thức quản trị cốt lõi đối với doanh nghiệp (DN). Khi ranh giới giữa đời sống cá nhân và đời sống nghề nghiệp bị xóa nhạt trong môi trường số hoá, câu hỏi không còn là “DN có được giám sát hay không”, mà là “DN có thể giám sát đến đâu thì vẫn hợp pháp, hợp lý và hợp đạo lý”. Chính sự dịch chuyển này đang tạo áp lực lên bộ phận pháp chế, nhân sự và quản lý cấp cao trong việc thiết kế lại chính sách nội bộ sao cho vừa tuân thủ pháp luật, vừa duy trì hiệu quả vận hành và bảo đảm văn hóa tôn trọng nhân phẩm của người lao động (NLĐ).



Nếu trước đây, quyền riêng tư tại nơi làm việc được hiểu ở mức độ hạn chế như DN không được tự ý mở thư tay hoặc xâm phạm thông tin cá nhân không liên quan công việc thì nay phạm vi quyền này được mở rộng do sự xuất hiện của email công việc, điện thoại do DN cấp, camera AI, hệ thống chấm công sinh trắc học, phần mềm giám sát năng suất, định vị GPS và các nền tảng quản trị dữ liệu. Trong bối cảnh pháp luật có nhiều thay đổi như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Bộ luật Lao động, Luật An ninh mạng, DN cần xem lại cách thức thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu của NLĐ để tránh rủi ro pháp lý và tranh chấp.

Đầu tiên, quyền riêng tư tại nơi làm việc không phải là tuyệt đối. Pháp luật thừa nhận DN có quyền tổ chức giám sát hợp lý nhằm bảo đảm an toàn thông tin, chống thất thoát tài sản, bảo vệ bí mật kinh doanh và duy trì kỷ luật nhưng quyền này phải được thực hiện trên nền tảng pháp luật và nguyên tắc chỉ được thực hiện trong phạm vi cần thiết, phù hợp với mục đích công việc và không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến nhân phẩm NLĐ. Do đó, bài toán đặt ra không phải là “giám sát hay không”, mà là “giám sát như thế nào để không xâm phạm quyền riêng tư”.

Một vấn đề gây tranh luận là việc sử dụng camera giám sát có gắn trí tuệ nhân tạo. Bản thân camera không bị pháp luật cấm, nhưng việc bố trí nó tại các khu vực riêng tư như nhà vệ sinh, phòng thay đồ hay các khu vực có tính chất riêng tư cao đều bị xem là vi phạm nghiêm trọng. Ngoài phạm vi vật lý, phần mềm giám sát hành vi trên máy tính như theo dõi email, nhật ký truy cập web hoặc đo lường hiệu suất bằng AI cũng có thể gây rủi ro pháp lý nếu DN không báo trước, không có quy chế rõ ràng hoặc thu thập dữ liệu vượt quá mục đích cần thiết. Việc thu thập dữ liệu âm thầm, thiếu minh bạch thường khiến bằng chứng thu thập được không được sử dụng trước tòa, thậm chí còn gây tác dụng ngược khi NLĐ cáo buộc DN vi phạm quyền riêng tư.

Email công việc là một ví dụ về ranh giới mờ. Email mang tên miền DN về nguyên tắc thuộc quyền quản lý của DN. Do đó, DN không bị cấm kiểm tra email công việc nhằm bảo mật hệ thống hoặc điều tra dấu hiệu vi phạm nội quy lao động (NQLĐ). Tuy nhiên, tính hợp pháp phải đi kèm điều kiện là chính sách phải được đưa vào NQLĐ, NLĐ phải được thông báo trước và mục đích kiểm tra phải liên quan đến công việc. Ngược lại, nếu DN sử dụng email công việc để soi mói đời sống cá nhân hoặc theo dõi thông tin không liên quan đến nhiệm vụ, hành vi đó vừa trái pháp luật, vừa phá vỡ niềm tin, vốn là nền tảng của văn hóa DN.

Ngay cả thiết bị do DN cấp như điện thoại, laptop, sim điện thoại, quyền riêng tư vẫn tồn tại ở một mức độ nhất định. DN có thể yêu cầu NLĐ ký thỏa thuận chấp nhận giám sát và giới hạn sử dụng, nhưng các dữ liệu đặc biệt nhạy cảm như sức khỏe, vị trí, sinh trắc học vẫn phải được bảo vệ theo quy định. Đây là điểm khiến DN gặp khó, vì thói quen quản trị cũ xem thiết bị là tài sản của DN, nên DN có thể xem mọi thứ. Quan điểm này không còn phù hợp trong kỷ nguyên dữ liệu cá nhân được xem là tài sản riêng tư. Sự thay đổi nhận thức này buộc DN phải chuyên nghiệp hơn trong quy trình thu thập và xử lý dữ liệu.

Ở góc độ quản trị, quyền riêng tư tại nơi làm việc không chỉ liên quan đến pháp lý mà còn tác động mạnh đến lòng tin nội bộ. Mỗi biện pháp giám sát, dù hợp pháp, đều để lại “dấu vết tâm lý”. Khi NLĐ cảm thấy bị theo dõi quá mức, hiệu suất công việc có thể giảm, sáng tạo bị kìm hãm và môi trường làm việc trở nên thiếu cởi mở, nhưng DN thường không nhận ra những chi phí vô hình này. Ngược lại, một chính sách minh bạch, rõ ràng, thể hiện sự tôn trọng quyền riêng tư có thể giúp củng cố niềm tin, tăng gắn kết và giảm tranh chấp phát sinh từ hiểu lầm.

Từ góc độ thực tiễn, nhiều DN thực hiện giám sát chỉ vì “mọi người đều làm thế”. Tuy nhiên, phương pháp cắt dán này thường dẫn đến việc áp dụng các biện pháp quá mức. Một DN vừa và nhỏ không nhất thiết phải áp dụng hệ thống giám sát chặt chẽ như một ngân hàng hoặc DN công nghệ sở hữu dữ liệu khách hàng nhạy cảm. Một DN sản xuất quy mô lớn có thể cần camera để ngăn chặn thất thoát vật tư, nhưng không cần giám sát từng click chuột trên máy tính của NLĐ trong văn phòng. Điều quan trọng không phải là “giám sát nhiều hay ít”, mà là “giám sát đúng rủi ro”.

Theo Bộ luật Lao động, NQLĐ phải mô tả rõ hành vi vi phạm, hình thức xử lý kỷ luật tương ứng và được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, nếu DN muốn sử dụng dữ liệu từ camera, email, nhật ký truy cập hệ thống hoặc bất kỳ biện pháp giám sát nào làm căn cứ xử lý kỷ luật, thì các căn cứ này phải được nêu trong NQLĐ để NLĐ hiểu phạm vi hành vi có thể bị kiểm tra và quy trình giám sát được áp dụng. Khi NQLĐ không nêu rõ căn cứ xử lý hoặc quy trình tương ứng, bằng chứng thu thập được dễ bị tòa bác vì thiếu minh bạch hoặc vi phạm thủ tục.

Từ ngày 01/01/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân chính thức có hiệu lực và đặt ra nghĩa vụ chặt chẽ hơn đối với hoạt động xử lý dữ liệu tại doanh nghiệp. Luật yêu cầu DN phải thông báo đầy đủ cho NLĐ về mục đích xử lý, phạm vi dữ liệu được thu thập, thời hạn lưu trữ, biện pháp bảo mật, quyền yêu cầu truy cập, chỉnh sửa, xóa dữ liệu, và danh sách bên thứ ba được chia sẻ dữ liệu (nếu có). Với dữ liệu nhạy cảm như sinh trắc học, định vị, sức khỏe hoặc thông tin nhận dạng, DN phải thực hiện đánh giá tác động đến việc xử lý dữ liệu và có biện pháp bảo mật phù hợp với mức độ rủi ro.

Một chủ đề ngày càng phức tạp là giám sát bằng dữ liệu sinh trắc học. Chấm công bằng vân tay, nhận diện khuôn mặt hay quét mống mắt đòi hỏi DN có lý do chính đáng và cam kết bảo mật cao. Rủi ro bị xem là vi phạm quyền riêng tư sẽ tăng mạnh nếu DN không có biện pháp bảo mật tương ứng, hoặc lưu trữ dữ liệu ở bên thứ ba mà không đảm bảo hợp đồng xử lý dữ liệu. Sự nhạy cảm của dữ liệu sinh trắc học nằm ở chỗ nó không thể thay đổi như mật khẩu. Do đó, cơ quan quản lý có xu hướng giám sát chặt chẽ hơn các DN sử dụng loại dữ liệu đặc biệt này.

Cùng với pháp lý, DN cần quan tâm đến tác động quản trị trong dài hạn. Một chính sách quyền riêng tư bài bản chính là cơ hội để DN chứng minh năng lực quản trị rủi ro. Nhiều DN đa quốc gia xem bảo vệ dữ liệu cá nhân là một phần trong chiến lược ESG, trong đó trụ cột “G – Governance” nhấn mạnh tính minh bạch, liêm chính và kiểm soát nội bộ.

Tuy nhiên, điều DN cần lưu ý nhất không phải là mua thêm camera, áp dụng thêm phần mềm theo dõi hay triển khai thêm các lớp kiểm soát mà là thiết kế một hệ thống quyền riêng tư dựa trên nguyên tắc minh bạch, cân bằng và giới hạn. Minh bạch nghĩa là mọi biện pháp giám sát đều được thông báo rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với từng nhóm nhân sự. Cân bằng nghĩa là DN chỉ áp dụng mức độ giám sát tương xứng với rủi ro thực tế của công việc. Giới hạn nghĩa là dữ liệu cá nhân chỉ được thu thập trong phạm vi tối thiểu cần thiết và chỉ được sử dụng đúng mục đích đã nêu.

Thực tiễn xử lý khiếu nại lao động cho thấy phần lớn tranh chấp về quyền riêng tư phát sinh từ sự thiếu rõ ràng của NQLĐ, chính sách không đầy đủ, NLĐ không được thông báo, và quản lý trung gian tự ý áp dụng các biện pháp giám sát không có căn cứ pháp lý. DN muốn tránh rủi ro cần ban hành chính sách quyền riêng tư tại nơi làm việc dưới dạng tài liệu chính thức, được đào tạo định kỳ cho cấp quản lý và có cơ chế giám sát việc tuân thủ. Trong  vụ việc có dấu hiệu vi phạm NQLĐ hoặc pháp luật, DN phải thu thập dữ liệu đúng quy trình, tránh lạm dụng các biện pháp xâm lấn như sao chép điện thoại cá nhân, xem tin nhắn riêng tư hoặc yêu cầu NLĐ cung cấp mật khẩu tài khoản cá nhân.

Cuối cùng, quyền riêng tư tại nơi làm việc không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là một tiêu chuẩn đạo đức. NLĐ ngày càng kỳ vọng cao hơn vào việc được tôn trọng trong môi trường làm việc. Một DN xem trọng quyền riêng tư không chỉ tránh được tranh chấp mà còn tạo dựng niềm tin, thu hút nhân tài và xây dựng hình ảnh của DN. Ngược lại, DN nào xem giám sát là vũ khí phòng thủ dễ rơi vào vòng xoáy đối đầu, thiếu hợp tác và mất đi sức mạnh trong quản trị nhân sự.

Quyền riêng tư tại nơi làm việc, vì vậy, là bài toán kép: vừa tuân thủ pháp luật, vừa quản trị lòng tin. DN nào giải được bài toán này sẽ có lợi thế trong kinh doanh. Và trong tất cả các cuộc thảo luận về dữ liệu, công nghệ và an ninh nội bộ, điều không bao giờ thay đổi chính là cốt lõi nhân văn: tôn trọng nhân phẩm vẫn phải là điểm xuất phát và điểm kết thúc của mọi chính sách trong DN.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Làm việc từ xa xuyên biên giới: Tự do địa lý nhưng không tự do pháp lý

 

Làm việc từ xa xuyên biên giới: Tự do địa lý nhưng không tự do pháp lý

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Làm việc từ xa xuyên biên giới đang dần trở thành cách vận hành bình thường mới của nhiều doanh nghiệp (DN), đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của nền tảng số, sự dịch chuyển của lao động chất lượng cao và sự ra đời của 2 trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Nhìn bên ngoài, mô hình này mang lại sự linh hoạt để DN Việt Nam có thể tuyển chuyên gia từ bất kỳ đâu, còn người lao động (NLĐ) có thể làm việc ở bất cứ nơi nào họ muốn. Nhưng nếu nhìn sâu vào cấu trúc pháp lý, mô hình này không hề vô tư như vẻ ngoài. Pháp luật không quan tâm NLĐ đang họp qua Zoom hay Teams, điều nó quan tâm là họ ngồi ở đâu, chịu sự kiểm soát của DN ra sao, công việc được thực hiện ở nước nào và nghĩa vụ thuế, BHXH phát sinh ở đâu. Chính sự tự do địa lý này dẫn đến thực tế trái ngược: nó không hề có tự do pháp lý. Ngược lại, càng làm việc linh hoạt, DN và NLĐ càng đối mặt với sự chồng chéo và xung đột pháp luật.

Trước hết, cần bàn đến vấn đề về luật điều chỉnh quan hệ lao động. Trong giao dịch thương mại, các bên có thể thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng. Nhưng trong quan hệ lao động, quy tắc này không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. NLĐ luôn được xem là bên yếu thế và được bảo vệ bằng hệ thống quy định bắt buộc (mandatory rules) của nước nơi họ làm việc. Đây không chỉ là nguyên tắc của tư pháp quốc tế mà còn là tinh thần xuyên suốt của nhiều Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam đã phê chuẩn. Các Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên bảo đảm NLĐ làm việc trong nước mình phải được hưởng mức bảo vệ tối thiểu, không phụ thuộc vào quốc tịch của DN hoặc các điều khoản hợp đồng lao động (HĐLĐ).

EVFTA, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU, làm cho nguyên tắc này trở nên mạnh mẽ hơn. EVFTA yêu cầu Việt Nam không được giảm chuẩn lao động, không được cản trở quyền của NLĐ và phải duy trì cam kết với các Công ước ILO cơ bản. Điều này có nghĩa là trong quan hệ lao động giữa DN Việt Nam và NLĐ đang làm việc tại EU, luật lao động của nước EU nơi NLĐ cư trú luôn có ưu thế, bất kể HĐLĐ có ghi luật Việt Nam hay không. DN Việt Nam không thể viện cớ tự do thỏa thuận luật để áp mức bảo vệ thấp hơn so với luật EU, vốn bảo vệ NLĐ rất mạnh.

Điều này dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật thường gặp. Một chuyên gia Đức làm việc toàn thời gian từ Berlin cho DN Việt Nam theo HĐLĐ theo pháp luật Việt Nam. Nếu có tranh chấp, tòa án Đức có thể áp dụng luật Đức, từ quy định về thời giờ làm việc, lương tối thiểu, nghỉ phép, chấm dứt hợp đồng đến việc bảo vệ dữ liệu cá nhân theo GDPR. Tương tự, một nhân sự Việt Nam chuyển sang sống tại Úc nhưng vẫn làm việc trực tuyến cho DN Việt Nam có thể trở thành NLĐ theo Fair Work Act 2009 của Úc, khiến DN Việt Nam đối mặt với các nghĩa vụ và thủ tục lao động nghiêm ngặt hơn so với tại Việt Nam.


Về thuế thu nhập cá nhân (TTNCN), Việt Nam xác định nghĩa vụ thuế dựa trên tình trạng cư trú thuế của NLĐ và nơi phát sinh thu nhập. Người cư trú về thuế của Việt Nam chịu thuế toàn cầu, còn người không cư trú chỉ chịu thuế trên phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Nhưng khi NLĐ làm việc từ xa ở nước ngoài, lương được DN Việt Nam trả từ Việt Nam thì không đương nhiên được xem là thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Theo chuẩn mực quốc tế của OECD (Điều 15) và hệ thống hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA) (các Điều 14-15), thu nhập từ tiền lương được xác định dựa trên nơi công việc thực sự được thực hiện. Ví dụ, nếu NLĐ làm việc tại Singapore thì thu nhập về bản chất phát sinh tại nước này, bất kể DN trả lương đặt trụ sở ở đâu. Việt Nam chỉ đánh thuế nếu NLĐ có mặt tại Việt Nam hoặc được xem là cư trú thuế tại Việt Nam. Ngược lại, nước sở tại có quyền ưu tiên đánh thuế theo luật của mình.

Thực tiễn cho thấy không ít trường hợp NLĐ bị đánh thuế hai lần do không kịp làm thủ tục áp dụng DTA hoặc không có giấy chứng nhận cư trú thuế. Một số NLĐ nước ngoài làm việc cho DN Việt Nam từ châu Âu có thể bị yêu cầu nộp thuế hai lần nếu hồ sơ của họ không đáp ứng yêu cầu “substance over form” (thu nhập thực chất phát sinh ở đâu). DN cũng dễ mắc lỗi khi khấu trừ thuế tại Việt Nam cho một NLĐ làm việc hoàn toàn ở Canada hoặc Nhật Bản, dẫn đến việc bị truy thu hoặc bị phạt vì khấu trừ sai nơi cư trú.

Ở góc độ DN, mô hình thuê NLĐ làm việc từ xa ở nước ngoài tưởng như đơn giản nhưng lại tiềm ẩn rủi ro về thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) do phát sinh “cơ sở thường trú” (Permanent Establishment – PE). Nếu DN vô tình bị xem là có PE tại nước ngoài, họ phải nộp TTNDN tại nước sở tại, kê khai doanh thu và chi phí liên quan, chịu thanh tra thuế của nước ngoài, chịu các quy định chống chuyển giá và có nguy cơ bị truy thu thuế trong nhiều năm. Theo đó, PE có thể xuất hiện theo 2 dạng: cơ sở thường trú từ địa điểm kinh doanh cố định (Fixed Place PE) và cơ sở thường trú từ đại lý phụ thuộc (Dependent Agent PE).

Fixed Place PE là trường hợp một NLĐ làm việc cho DN Việt Nam từ nơi, ví dụ tại Tokyo, không tự động tạo ra PE. Nhưng nếu họ làm việc thường xuyên, liên tục, thực hiện các hoạt động cốt lõi tạo doanh thu như đàm phán, chốt giao dịch, quản lý dự án cho DN Việt Nam, cơ quan thuế nước sở tại có khả năng kết luận rằng căn hộ của NLĐ chính là “địa điểm kinh doanh cố định” của DN Việt Nam. Khi điều này xảy ra, DN gần như được xem là đã “mở văn phòng” ở nước ngoài mà không hay biết.

Còn Dependent Agent PE là trường hợp NLĐ có quyền đại diện DN, đàm phán và ký hợp đồng, hoặc thường xuyên đóng vai trò then chốt trong giao dịch, họ có thể bị xem là đại lý phụ thuộc. Chỉ riêng việc NLĐ này thường xuyên chốt hợp đồng tại địa phương có thể đã đủ để DN Việt Nam bị xem là có PE. Đây là rủi ro mà nhiều tập đoàn đa quốc gia cực kỳ dè chừng, nhưng DN Việt Nam thường bỏ qua vì đôi khi không biết đến.

Về bảo hiểm xã hội (BHXH), pháp luật Việt Nam quy định NLĐ nước ngoài chỉ thuộc diện đóng BHXH khi làm việc tại Việt Nam và có ký HĐLĐ từ 12 tháng trở lên. Nghĩa là yếu tố quyết định không phải là DN Việt Nam trả lương hay HĐLĐ được ký tại Việt Nam, mà là NLĐ có thực sự làm việc tại Việt Nam hay không. Nếu họ làm việc từ xa ở nước ngoài, BHXH Việt Nam sẽ không áp dụng, và DN Việt Nam cũng không được đóng BHXH cho họ theo diện bắt buộc.

Tuy nhiên, khi NLĐ làm việc tại nước khác, nước đó có thể yêu cầu họ tham gia hệ thống BHXH của nước đó, vì phần lớn các nước đều áp dụng nguyên tắc “ai làm việc trên lãnh thổ nào thì phải tham gia hệ thống an sinh ở lãnh thổ đó”. Điều này dẫn đến vấn đề là nếu DN Việt Nam vẫn tiếp tục đóng BHXH tại Việt Nam cho NLĐ làm việc ở nước ngoài, thì khoản đóng này không được nước sở tại công nhận. Thời gian đóng BHXH tại Việt Nam không được cộng dồn, không tạo quyền lợi hưu trí và, về lâu dài, NLĐ gần như không thể sử dụng được thời gian đó trong hệ thống an sinh để thực sự nhận lương hưu. Nói cách khác, NLĐ vừa không cần, vừa không được hưởng, nhưng lại có nguy cơ phải đóng thêm BHXH tại nước sở tại. Chỉ trong những trường hợp Việt Nam có hiệp định an sinh xã hội với nước sở tại (ví dụ Hàn Quốc) thì thời gian đóng BHXH tại hai nước mới được cộng dồn, tránh đóng trùng và bảo vệ quyền lợi hưu trí. Nhưng số lượng hiệp định như vậy của Việt Nam hiện vẫn còn rất hạn chế.

Ở góc độ NLĐ, sự linh hoạt đi kèm với rủi ro bị đánh thuế thu nhập cá nhân kép, BHXH kép hoặc mất quyền lợi hưu trí, chưa kể việc khi có tranh chấp, họ phải đối mặt với thực tế về thủ tục kiện tụng xuyên quốc gia, nơi tòa án nước sở tại có thể áp dụng luật của họ chứ không theo điều khoản luật áp dụng trong HĐLĐ.

Còn ở góc độ hoạch định chính sách, Việt Nam đang đứng trước bài toán chưa từng có là hệ thống pháp luật vốn được thiết kế cho mô hình lao động truyền thống theo hướng NLĐ làm việc tại Việt Nam cho DN Việt Nam, nhưng nay phải đối mặt với mô hình hai chiều: (1) NLĐ Việt Nam làm việc cho DN nước ngoài ngay tại Việt Nam; và (2) NLĐ nước ngoài làm việc cho DN Việt Nam ở quốc gia khác. Các cam kết lao động trong EVFTA buộc Việt Nam phải nâng cao chuẩn thực thi, tăng tính minh bạch và bảo đảm quyền của NLĐ trong các quan hệ có yếu tố EU. Cùng lúc đó, các Công ước ILO đặt áp lực lên Việt Nam để Việt Nam tiếp tục mở rộng bảo vệ NLĐ không phân biệt quốc tịch, vùng lãnh thổ hay hình thức làm việc.

Tất cả những điều này cho thấy làm việc từ xa xuyên biên giới không phải là chuyện công nghệ, mà là chuyện quản trị pháp lý đa tầng. DN trước khi triển khai mô hình này cần trả lời 3 câu hỏi: luật nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ lao động; TTNCN phát sinh ở đâu và cư trú thuế của NLĐ được xác định như thế nào; và hoạt động của NLĐ có làm phát sinh PE cho DN ở nước sở tại không. Khi trả lời được 3 câu hỏi này, DN có thể thiết kế lại HĐLĐ, kiểm soát phạm vi công việc, điều chỉnh quyền hạn đại diện của NLĐ, áp dụng DTA và cân nhắc việc thành lập pháp nhân tại quốc gia sở tại nếu cần thiết.

Tóm lại, làm việc từ xa là xu thế tất yếu và sẽ phát triển mạnh hơn trong tương lai gần. Nhưng để mô hình này vận hành an toàn, DN Việt Nam cần nhìn thẳng vào thực tế rằng sự tự do địa lý không đi cùng với tự do pháp lý. Rủi ro không nằm ở đường truyền Internet, mà nằm ở việc pháp luật của nước nào sẽ gõ cửa trước, và khi nó gõ, DN đã có sẵn câu trả lời hay chưa sẽ quyết định sự bền vững của cả mô hình.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

Top of Form

 

Bottom of Form

 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Điều tra nội bộ để kỷ luật nhân viên: 10 sai lầm phổ biến doanh nghiệp cần nên tránh

 

Điều tra nội bộ để kỷ luật nhân viên: 10 sai lầm phổ biến doanh nghiệp cần nên tránh

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Chủ tịch CCCC)

Điều tra nội bộ nhằm kỷ luật nhân viên là một trong những hoạt động quản trị rủi ro nhạy cảm và phức tạp nhất trong doanh nghiệp (DN) hiện đại. Về hình thức, đây là bước kỹ thuật nhằm xác minh sự thật của vụ việc trước khi chủ DN ra quyết định kỷ luật lao động đối với người lao động (NLĐ). Nhưng về bản chất, điều tra nội bộ là một chuỗi hành vi pháp lý có khả năng tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích, danh dự và đời sống riêng tư của NLĐ. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong cách điều tra, thu thập chứng cứ hoặc xử lý thông tin, DN có thể biến một vụ việc “có lỗi rõ ràng” thành một tranh chấp lao động kéo dài, thậm chí thua kiện dù bản chất vi phạm là có thật.

Sai lầm phổ biến đầu tiên của DN là tiếp cận điều tra nội bộ với tâm thế đã có sẵn kết luận về hành vi vi phạm. Trong thực tế, không ít cuộc điều tra được khởi động khi ban quản trị đã ngầm quyết định rằng NLĐ “chắc chắn đã sai” và việc điều tra chỉ nhằm mục đích tìm đủ bằng chứng để hợp thức hóa quyết định kỷ luật. Khi điều tra được tiến hành theo hướng buộc tội như thế, mọi bước đi tiếp theo đều tiềm ẩn rủi ro, từ việc chọn lọc chứng cứ có lợi cho DN, bỏ qua các tình tiết gỡ tội cho NLĐ cho đến việc gây áp lực tâm lý lên những người bị điều tra. Trong tranh chấp, luật sư của NLĐ thường dễ dàng chỉ ra sự thiếu khách quan này để phản công, khiến toàn bộ kết quả điều tra của DN bị nghi ngờ. Hướng hóa giải là DN phải tiếp cận điều tra với tư duy trung lập, xem điều tra là công cụ tìm kiếm sự thật chứ không phải là công cụ tìm đủ lý do để kỷ luật NLĐ, và sẵn sàng chấp nhận cả khả năng không đủ căn cứ để kỷ luật.



Sai lầm thứ hai là DN mở rộng phạm vi điều tra quá mức so với mức cần thiết. Khi nghi ngờ vi phạm, nhiều DN có xu hướng muốn “soi” lại toàn bộ đời sống số của NLĐ, từ email công ty, lịch sử truy cập hệ thống cho đến mạng xã hội cá nhân, thậm chí cả các mối quan hệ riêng tư của NLĐ. Vấn đề nằm ở chỗ không phải mọi thông tin DN tiếp cận như thế đều được xem là hợp pháp để sử dụng như chứng cứ trước tòa. Việc thu thập dữ liệu không liên quan trực tiếp đến hành vi bị điều tra dễ bị xem là xâm phạm quyền riêng tư của NLĐ và vi phạm nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu. Trong nhiều vụ việc, chính sự “đào sâu” này lại trở thành điểm yếu chí tử khiến chứng cứ của DN bị bác bỏ. Hướng hóa giải là DN cần xác định rõ mục tiêu điều tra ngay từ đầu và giới hạn dữ liệu thu thập đúng với mục tiêu đó, tránh tâm lý “thu thập trước rồi tính sau”.

Sai lầm thứ ba là sử dụng thông tin thu thập được sai mục đích. Có những DN ban đầu thu thập dữ liệu chỉ để điều tra, xử lý kỷ luật, nhưng sau đó lại dùng chính những thông tin đó để răn đe nội bộ, làm ví dụ trong các buổi đào tạo nội bộ hoặc lan truyền không kiểm soát trong tổ chức. Khi đó, dù hành vi vi phạm của NLĐ là có thật, DN vẫn có thể bị xem là xử lý dữ liệu cá nhân sai mục đích, xâm phạm danh dự và nhân phẩm của NLĐ. Trong tranh chấp, điều này không chỉ làm suy yếu quyết định kỷ luật của DN mà còn mở ra rủi ro DN phải bồi thường thiệt hại cho NLĐ. Hướng hóa giải là DN phải áp dụng nguyên tắc “mục đích đóng”, chỉ sử dụng dữ liệu điều tra để xác minh, kết luận và ra quyết định kỷ luật, không được tái sử dụng nếu không có căn cứ pháp lý rõ ràng.

Sai lầm thứ tư là thiếu minh bạch trong quá trình điều tra. Việc DN âm thầm theo dõi, trích xuất email, ghi âm, chụp màn hình hoặc sử dụng camera mà không có thông báo phù hợp khiến NLĐ có cơ sở phản bác chứng cứ với lý do xâm phạm quyền riêng tư. Trong nhiều vụ án, dù nội dung chứng cứ phản ánh đúng hành vi vi phạm của NLĐ, nhưng cách thu thập không minh bạch đã khiến chứng cứ của DN bị giảm giá trị hoặc bị loại bỏ. Hướng hóa giải là DN cần lồng ghép nghĩa vụ thông báo xử lý dữ liệu cá nhân vào quy trình điều tra, thông báo rõ loại dữ liệu, mục đích sử dụng, phạm vi tiếp cận và thời gian lưu trữ, vừa tuân thủ pháp luật vừa giảm tâm lý đối đầu.

Sai lầm thứ năm là thu thập và sử dụng chứng cứ điện tử một cách tùy tiện, không bảo đảm tính hợp pháp và tính toàn vẹn. Email, tin nhắn, log hệ thống, dữ liệu camera là những chứng cứ rất phổ biến nhưng cũng rất dễ bị phản bác. Chỉ cần DN không chứng minh được dữ liệu được trích xuất hợp pháp, không bị chỉnh sửa và được lưu trữ đúng quy trình, thì toàn bộ chứng cứ đó có thể bị nghi ngờ. Trong thực tế, không ít DN thua kiện chỉ vì “IT gửi file cho HR qua Zalo” mà không có bất kỳ biên bản nào hoặc kiểm soát nào. Hướng hóa giải là DN phải chuẩn hóa quy trình thu thập chứng cứ điện tử, giới hạn người có quyền truy cập, lập biên bản trích xuất và lưu trữ dữ liệu theo chuẩn bảo đảm tính toàn vẹn.

Sai lầm thứ sáu là xâm phạm dữ liệu cá nhân nhạy cảm của NLĐ. Trong một số vụ việc, DN điều tra các vấn đề liên quan đến sức khỏe, đời sống tình cảm, quan điểm cá nhân hoặc các thông tin nhạy cảm khác của NLĐ với lý do “đạo đức” hoặc “uy tín công ty”. Đây là vùng rủi ro pháp lý cực kỳ cao, bởi dữ liệu cá nhân nhạy cảm được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt hơn. Nhiều DN tưởng rằng mình đang “bắt đúng điểm yếu” của NLĐ, nhưng thực tế lại tự đẩy mình vào thế bất lợi trước tòa. Hướng giải là DN chỉ nên tiếp cận dữ liệu cá nhân nhạy cảm của NLĐ khi thật sự cần thiết, có căn cứ pháp lý rõ ràng và nên tham vấn ý kiến pháp lý của luật sư trước khi triển khai.

Sai lầm thứ bảy là để quá nhiều người tham gia điều tra, bao gồm cả những người cung cấp dịch vụ bên ngoài hoặc từ công ty mẹ, dẫn đến rò rỉ thông tin. Khi thông tin điều tra lan truyền trong nội bộ trước khi có kết luận, danh dự và uy tín của NLĐ có thể bị tổn hại nghiêm trọng, kể cả khi sau đó họ được xác định là không vi phạm. Trong những trường hợp này, DN có thể phải đối mặt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với NLĐ. Hướng hóa giải là DN phải giới hạn nghiêm ngặt danh sách người tham gia điều tra, phân quyền rõ ràng và áp dụng nguyên tắc “cần biết đến đâu, biết đến đó”.

Sai lầm thứ tám, hay thường bị bỏ sót, là xung đột lợi ích trong nhóm điều tra. Khi người tham gia điều tra đồng thời là người có mâu thuẫn cá nhân, quan hệ cấp trên – cấp dưới trực tiếp với NLĐ bị điều tra hoặc có lợi ích liên quan đến kết quả điều tra, tính khách quan của kết luận sẽ bị nghi ngờ. Trong tranh chấp, đây là điểm rất dễ bị khai thác để bác bỏ kết quả điều tra. Hướng hóa giải là DN cần bảo đảm tính độc lập tương đối của người điều tra và loại trừ những cá nhân có xung đột lợi ích rõ ràng.

Sai lầm thứ chín mà ngày càng được tòa án và NLĐ chú ý là DN tổ chức điều tra kéo dài không cần thiết. Việc treo lơ lửng kết quả điều tra trong một thời gian dài sẽ tạo áp lực tâm lý lớn lên NLĐ, làm xói mòn niềm tin và dễ bị xem là đối xử không công bằng với NLĐ. Trong một số vụ việc, dù DN có căn cứ về hành vi vi phạm, nhưng việc điều tra kéo dài không hợp lý lại trở thành tình tiết bất lợi khi phát sinh tranh chấp. Hướng hóa giải là DN cần đặt ra khung thời gian hợp lý cho từng giai đoạn điều tra và tuân thủ nghiêm túc, chỉ kéo dài khi có lý do khách quan và phải thông báo rõ ràng cho NLĐ.

Sai lầm cuối cùng và mang tính hệ thống là DN chỉ xem điều tra nội bộ như một bước kỹ thuật để đi đến kỷ luật lao động, thay vì xem đó là một phần của chiến lược quản trị rủi ro tổng thể của DN. Khi điều tra được thực hiện một cách hình thức, thiếu chuẩn mực và thiếu nhân văn, DN không chỉ đối mặt với rủi ro pháp lý như trên mà còn làm tổn hại đến văn hóa tổ chức và niềm tin nội bộ. Trong bối cảnh pháp luật ngày càng siết chặt bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư, điều tra nội bộ sẽ không còn là vùng xám an toàn đối với DN.

Tóm lại, quản trị rủi ro trong điều tra nội bộ đòi hỏi DN phải thay đổi tư duy từ gốc. Việc điều tra không phải để trừng phạt nhanh NLĐ vi phạm, mà để đưa ra quyết định đúng. Điều tra không phải để tìm bằng chứng buộc tội NLĐ, mà để xác định sự thật trong khuôn khổ pháp lý cho phép. Khi điều tra đúng phạm vi, đúng mục đích, đúng quy trình và đúng tinh thần công bằng, DN không chỉ giảm thiểu rủi ro tranh chấp với NLĐ, mà còn củng cố được hình ảnh một tổ chức chuyên nghiệp, kỷ cương và nhân văn, ngay cả trong những tình huống kỷ luật khó khăn nhất.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Khi chất xám chuyển hướng sang châu Á, Việt Nam còn giữ họ bằng gì?

 

Khi chất xám chuyển hướng sang châu Á, Việt Nam còn giữ họ bằng gì?

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Có những buổi sáng đọc tin mạng mà lòng tự dưng chùng xuống, không phải vì bất ngờ, mà vì cảm giác như đã đoán trước từ lâu, chỉ là đến ngày sự thật tự bước ra trước mặt, nhìn mình nhưng không nói gì. Cuối tháng 1 rồi sang đầu tháng 2 năm 2026, ba mẩu tin xuất hiện liên tiếp, tưởng rời rạc nhưng đặt cạnh nhau thì giống ba nhát cắt gọn gàng vào một câu hỏi mà Việt Nam đã mang theo nhiều năm đó là vì sao ta nói nhiều về nhân tài, nhưng lại khó giữ nhân tài ở lại, khó kéo nhân tài quay về, và càng khó hơn để họ dám đứng mũi chịu sào.

Giáo sư Vũ Hà Văn rời Yale để gia nhập Đại học Hong Kong, ngôi trường được QS xếp hạng số 1 ở châu Á năm 2026. Giáo sư Ngô Bảo Châu rời Đại học Chicago sau 15 năm làm việc, cũng sang Hồng Kông và nói thẳng rằng mức mời về tài chính không thua kém Mỹ, còn môi trường khoa học ở đó đang được đầu tư quyết liệt để vươn tầm. Trong nước, một lãnh đạo ngành khoa học thừa nhận rằng dù cơ chế đã mở, vẫn chưa có nhà khoa học Việt Nam nào chủ động ứng cử làm tổng công trình sư cho các đề án lớn, bởi nhiều người vẫn lo ngại về trách nhiệm và rủi ro.

Tôi đọc ba mẫu tin này, và điều làm tôi trăn trở nhất không phải là chuyện đi hay ở. Người giỏi có quyền chọn nơi họ làm việc là lẽ thường của thế giới hiện đại vì đó là quyền tự do nghề nghiệp. Điều khiến lòng tôi nặng hơn là cảm giác chất xám của người Việt không “chảy” theo hướng mà ta mong đợi. Nó không đơn giản chảy từ Việt Nam sang Mỹ như câu chuyện cũ, mà đang đổi hướng ngay trong châu Á, sang những nơi hiểu rất rõ họ đang làm gì trong cuộc đua nhân tài, và sẵn sàng trả giá để chiến thắng.

Chất xám bây giờ không chảy như nước tràn bờ; nó di chuyển như dữ liệu. Dữ liệu không có cảm xúc, nó chọn đường đi có băng thông lớn, độ trễ thấp, ít nhiễu, ít rớt mạng, ít bị hỏi đi hỏi lại cùng một câu, ít bị gián đoạn bởi những việc không liên quan đến mục tiêu. Nhân tài cũng vậy. Họ vẫn có tình cảm, vẫn có ký ức, vẫn có tình hoài hương, nhưng khi đứng trước một hệ thống cho phép họ tập trung vào điều họ giỏi nhất, được trao nguồn lực đúng lúc, được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp, và được bảo vệ khỏi những rủi ro không tương xứng, họ sẽ chọn. Sự lựa chọn ấy đôi khi rất lạnh, nhưng không phải là vô ơn. Nó chỉ là một logic nghề nghiệp.



Điều đáng nói là ngay cả khi chọn Hong Kong, người giỏi vẫn nói về Việt Nam bằng một giọng rất mềm. Có người nói muốn ở gần gia đình hơn, muốn tham gia sâu hơn vào việc đào tạo thế hệ trẻ yêu toán ở Việt Nam, và muốn về thường xuyên hơn để tổ chức hội thảo, câu lạc bộ, và tạo mạng lưới nghiên cứu. Tôi luôn tin vào những lời ấy, bởi không ai phải nói nếu không muốn, và càng không ai cần nói nếu họ chỉ quan tâm đến sự nghiệp cá nhân. Nhưng chính vì lời ấy thật, ta càng thấy rõ một nghịch lý: tình cảm vẫn còn, ý chí đóng góp vẫn còn, nhưng “địa chỉ nghề nghiệp” lại ở nơi khác. Đó là phần đau nhất của câu chuyện, vì nó nhắc ta rằng chỉ tình cảm thôi không đủ để biến một khao khát thành một lựa chọn nghề nghiệp dài hạn.

Và nếu chỉ nhìn những cái tên ở đỉnh, ta có thể tự an ủi rằng đó là chuyện đặc biệt, chuyện của những người ở tầng cao nhất. Nhưng trăn trở thật sự nằm ở dòng chảy rộng hơn và âm thầm hơn. Việt Nam không chỉ mất người giỏi ở đỉnh mà còn mất người giỏi ở sườn và chân của ngọn núi, những người trẻ đi học nước ngoài rồi không trở về, hoặc trở về một thời gian rồi lại ra đi, vì họ không thấy một con đường chạy đủ dài, đủ rộng, đủ công bằng để họ dồn sức mà không phải vừa chạy vừa né.

Có người nói rằng việc nhiều người đi du học tự túc rồi quyết định ở lại là lựa chọn cá nhân, không ai có quyền bắt họ phải quay về. Điều đó đúng, nhưng chính vì đúng, ta càng phải chấp nhận rằng đây là một thị trường cạnh tranh nhân tài toàn cầu, nơi quốc gia nào muốn có người giỏi thì phải biết tạo điều kiện để họ muốn đến và ở lại. Không thể thắng bằng lời kêu gọi đạo đức, cũng không thể thắng bằng việc trách móc vì sao không về. Người trẻ không chống lại quê hương, họ chỉ đang cố gắng sống một đời có ý nghĩa và có tương lai. Và nếu ở một nơi khác, tương lai rõ ràng hơn, họ sẽ đi theo tương lai ấy.

Tôi từng gặp nhiều người Việt kiều, nhiều du học sinh về nước với tâm trạng rất đẹp, như mang một ngọn lửa nhỏ về thắp sáng căn phòng. Họ hào hứng vì thấy mình có thể đóng góp. Họ tin rằng kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm của họ sẽ hữu ích. Nhưng rồi, một số người lặng lẽ rời đi, không phải vì họ thiếu kiên trì, mà vì họ thấy hệ thống tiếp nhận ở nhà đôi khi giống như một chiếc cửa xoay. Bạn bước vào, xoay được một vòng, tưởng đã vào trong, nhưng gió và lực của cánh cửa lại đẩy bạn ra. Bạn không bị ai đuổi, nhưng bạn không vào được.

Có những trường hợp rất cụ thể, từng gây tranh luận, để thấy chiếc cửa xoay ấy vận hành như thế nào. Trường hợp một Giáo sư Việt kiều có tiếng về Việt Nam làm quản lý đại học rồi sau đó rời đi vì những vướng mắc tiêu chuẩn, thủ tục, cơ chế bổ nhiệm từng khiến dư luận băn khoăn nhiều năm. Dù mỗi người có thể nhìn câu chuyện ấy từ một góc khác nhau, khó phủ nhận rằng khi hệ thống đặt ra những điều kiện “đúng quy định” nhưng không đủ linh hoạt để tiếp nhận một năng lực khác biệt, thì kết quả thường là mất người. Không ai hoàn toàn sai, nhưng rốt cuộc, đất nước vẫn bị thiệt hại. Nơi nào khiến người giỏi phải tiêu hao quá nhiều năng lượng vào những thứ ngoài chuyên môn, nơi đó khó giữ người tài.

Tôi nghĩ, điều làm người ta ngại nhất không phải là thiếu tiền, vì nhiều người giỏi không đòi phải giàu; họ chỉ đòi được sống đàng hoàng bằng nghề. Cái làm người ta ngại hơn là cảm giác rủi ro không được phân bổ công bằng. Trong khoa học và công nghệ, rủi ro chuyên môn là điều tất yếu. Không ai nghiên cứu mà chắc chắn sẽ thành công. Không ai làm đổi mới mà không có khả năng mắc sai sót. Nhưng nếu rủi ro chuyên môn bị biến thành rủi ro pháp lý, thanh tra, giải trình theo cách có thể khiến họ mất danh dự, mất sự nghiệp, thậm chí đối mặt với hệ quả nghiêm trọng dù họ làm đúng quy trình và không có động cơ tư lợi, thì phản xạ tự nhiên của người giỏi là tránh đứng ở tuyến đầu. Không phải vì họ hèn đâu, mà vì họ tỉnh táo.

Bởi vậy, câu chuyện trong nước về việc chưa có ai chủ động ứng cử làm tổng công trình sư cho các đề án lớn, theo tôi, không nên hiểu là thiếu người giỏi hay thiếu lòng tin. Nó giống như một bài toán bảo hiểm. Người ta hỏi thầm rằng nếu tôi nhận lời, tôi có được trao quyền thật không, hay chỉ là danh nghĩa. Nếu tôi làm đúng quy trình mà thất bại vì khoa học vốn có thể thất bại, ai sẽ bảo vệ tôi. Nếu tôi phải ký vào những quyết định mua sắm thiết bị, thuê chuyên gia, chọn đối tác, ký hợp đồng, và nếu sau này người khác nhìn bằng một thước đo khác rồi nói tôi sai, tôi có một vùng đệm an toàn nào không.

Việt Nam đã bắt đầu hình thành tư duy bảo vệ những người dám nghĩ dám làm trong khu vực công. Nhưng tôi vẫn trăn trở vì cơ chế bảo vệ ấy hiện nay còn hẹp, chủ yếu áp dụng cho cán bộ, công chức trong một số bối cảnh đặc thù. Trong khi các dự án khoa học công nghệ lớn lại là hệ sinh thái lai. Có nhà nước, có trường đại học, có viện nghiên cứu, có doanh nghiệp, có đối tác quốc tế, có mua sắm, có tài sản công, có lợi ích đan xen, có hàng loạt điểm chạm mà chỉ cần thiếu rõ ràng là rủi ro sẽ phình ra. Nếu lá chắn mới chỉ che được một nhóm hẹp, còn người tiên phong trong các dự án trọng điểm vẫn phải bước giữa trời mưa rủi ro, thì lời mời đứng mũi chịu sào vẫn sẽ khiến người ta chùn chân. Lúc ấy, việc không ai ứng cử không còn là chuyện khó hiểu, nó là chuyện bình thường.

Từ đây, nhìn sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ta sẽ thấy họ có thể khác nhau về chế độ, văn hóa, cách vận hành, nhưng họ giống nhau ở một điểm: họ xem thu hút nhân tài là một cuộc đua chính sách thật sự, không chỉ là một bài phát biểu. Trung Quốc có những chương trình thu hút nhân tài với gói đãi ngộ mạnh, đi kèm nguồn lực để lập nhóm nghiên cứu, và quan trọng là tốc độ ra quyết định đủ nhanh để người giỏi không bị mất nhịp. Hàn Quốc tạo nhiều cánh cửa linh hoạt, mời người giỏi về theo dự án, thời hạn, nhóm, để hình thành mạng lưới hợp tác, không bắt buộc ai phải lựa chọn một lần cho cả đời. Nhật Bản đầu tư dài hạn vào các trung tâm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, tạo môi trường quốc tế hóa, xây dựng hệ thống hỗ trợ và đánh giá theo chuẩn học thuật, để người giỏi đến rồi thấy mình đang ở đúng chỗ.

Tôi không nghĩ Việt Nam nên sao chụp mô hình nào, vì mỗi nước có bối cảnh riêng. Nhưng Việt Nam có thể học một điều rất căn bản: muốn kéo người giỏi về và giữ họ ở lại thì phải biến lời mời thành một cấu trúc. Cấu trúc ấy phải có tiền, nhưng tiền không nhất thiết phải trả cao đồng loạt mà có thể trả cao ở từng điểm chạm. Cấu trúc ấy phải có quyền, và quyền phải là quyền thật, từ tuyển người, chọn đối tác, định hướng nghiên cứu, đến quyền tự chủ học thuật. Cấu trúc ấy phải bớt phiền, nghĩa là giảm các thủ tục không cần thiết, tăng năng lực hành chính hỗ trợ, và đặc biệt là làm cho mọi thứ minh bạch, rõ ràng, và đo được.

Quan trọng hơn cả, Việt Nam cần một vùng an toàn pháp lý dành riêng cho đổi mới sáng tạo. Tôi nói vùng an toàn không phải để xin đặc quyền cho ai, càng không phải để hợp pháp hóa việc làm sai. Vùng an toàn chỉ nên bảo vệ người làm đúng, bảo vệ tính liêm chính của khoa học. Nếu người đứng mũi chịu sào minh bạch về xung đột lợi ích, tuân thủ quy trình, công khai dữ liệu, chịu đánh giá độc lập, không có động cơ tư lợi, thì thất bại khoa học phải được xem là rủi ro được phép. Ngược lại, nếu gian lận, trục lợi, hoặc cố tình làm sai, thì phải xử nghiêm hơn bình thường, vì người tiên phong mà làm bậy thì thiệt hại còn lớn hơn.

Cũng có người nói rằng nếu nói “miễn trách nhiệm” thì sẽ biến thành “miễn kỷ luật”, rồi sẽ có vùng tối. Nỗi lo đó không vô lý, nhưng chính vì vậy, vùng an toàn phải đi kèm với kỷ luật quản trị hiện đại. Mục tiêu rõ ràng, mốc kiểm tra định kỳ, hội đồng đánh giá độc lập đủ năng lực, cơ chế công khai kết quả, và phân loại rủi ro một cách khoa học. Ta phải tách rõ thất bại khoa học trong phạm vi cho phép, sai sót quản trị có thể khắc phục, và hành vi gian lận trục lợi. Khi tách đúng ba lớp ấy, ta vừa bảo vệ được người dấn thân, vừa không tạo ra đặc quyền, và cũng không biến nó thành một trò chơi may rủi.

Cũng có ý kiến khác cho rằng ngân sách còn hạn chế, tiền đâu để làm những việc này. Tôi nghĩ câu trả lời không nằm ở việc hứa chi thật nhiều, mà nằm ở việc chi đúng. Không nhất thiết phải trả lương đỉnh cho mọi người, nhưng phải dám tập trung vào một số điểm nút có hiệu ứng lan tỏa, như các nhóm nghiên cứu lõi, các phòng thí nghiệm trọng điểm, và các dự án quốc gia có đầu ra rõ ràng. Quan trọng hơn, phải đầu tư vào hạ tầng mềm: quy trình mua sắm thiết bị minh bạch và nhanh chóng, quyền tuyển trợ lý nghiên cứu, cơ chế hợp tác quốc tế thông suốt, và đội ngũ hành chính chuyên nghiệp để nhà khoa học không phải dùng thời gian của họ đi xin chữ ký. Nhiều khi, bớt phiền còn rẻ hơn tăng lương, nhưng tác dụng lại lớn hơn, vì nó trả lại cho người giỏi thứ quý nhất: thời gian và sự tập trung.

Cũng có người lo rằng việc thu hút người giỏi nước ngoài về sẽ khiến người trong nước nản lòng, tạo cảm giác bất công. Nỗi lo ấy chỉ đúng nếu tuyển chọn mờ ám, ưu đãi theo quan hệ, kết quả không công khai. Nhưng nếu chuẩn tuyển chọn rõ ràng, cạnh tranh mở, quyền lợi gắn với trách nhiệm và kết quả, thì người trong nước sẽ không bị đè, mà còn được nâng trần. Người giỏi từ nước ngoài về không phải để thay thế, mà để tạo chuẩn, tạo mạng lưới, tạo cơ hội học hỏi và tạo một môi trường mà người trong nước cũng muốn lớn lên trong đó.

Tôi muốn kết bài bằng một hình ảnh nhỏ, vì đôi khi những điều lớn lao nhất lại bắt đầu từ một câu hỏi rất trẻ. Hãy tưởng tượng một sinh viên Việt Nam mê Toán, ở một căn phòng trọ nhỏ, học bằng sách và video, mơ ước một ngày nào đó được làm việc trong một nhóm nghiên cứu mạnh. Em đọc tin hai giáo sư người Việt nổi tiếng bậc nhất thế giới cùng hội tụ ở một trường đại học châu Á, không xa Việt Nam. Em vui vì thấy người Việt vẫn có người đứng ở tuyến đầu. Nhưng ngay sau niềm vui ấy là một câu hỏi bật ra, không trách ai, chỉ buồn một chút. Vì sao không phải ở Hà Nội hay Sài Gòn. Vì sao những ngọn hải đăng của người Việt lại sáng ở một bến khác, còn bến nhà thì vẫn tối hơn một chút?

Và câu hỏi mở cuối, tôi xin để lại trong tâm thế trăn trở ấy. Khi Việt Nam bước vào cuộc đua khoa học công nghệ của thập kỷ vươn mình, chúng ta muốn người giỏi bước lên làm tổng công trình sư vì khát vọng sáng tạo và niềm tin rằng họ sẽ được trao quyền, được bảo vệ đúng cách, được đánh giá công bằng, hay chúng ta chấp nhận việc họ sẽ tiếp tục chọn một bến đỗ khác ngay trong lòng châu Á, nơi hợp đồng rõ ràng hơn và giấc mơ ít bị làm phiền hơn, rồi tự an ủi nhau rằng đó là chuyện bình thường của thời hội nhập, trong khi điều bình thường ấy đang lặng lẽ rút khỏi tay ta tương lai của chính mình không?

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Hợp đồng lao động điện tử, tối ưu hay rủi ro

 

Hợp đồng lao động điện tử, tối ưu hay rủi ro

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Có thay đổi pháp lý khi mới xuất hiện thường khiến doanh nghiệp (DN) chia thành hai phe. Một phe hồ hởi như vừa tìm thấy chiếc chìa khóa mở cánh cửa quản trị hiện đại, còn phe còn lại dè chừng như đang nhìn vào một cái bẫy được bọc bằng công nghệ. Hợp đồng lao động (HĐLĐ) điện tử có lẽ nằm giữa hai tâm thế ấy. Với DN, nó hứa hẹn giúp tiết kiệm giấy tờ, giảm thời gian ký kết, thuận tiện cho tuyển dụng từ xa, dễ dàng lưu trữ và tra cứu, đồng thời phù hợp với xu hướng quản trị nhân sự số. Với người lao động (NLĐ), điều này giúp họ nhận hợp đồng nhanh hơn và giữ hợp đồng dễ dàng hơn.

Nhưng trong quan hệ lao động, điều gì càng thuận tiện thì càng cần được thiết kế cẩn trọng. HĐLĐ không chỉ là một biểu mẫu hành chính mà còn là điểm khởi đầu của một quan hệ pháp lý đặc biệt, nơi một bên có vị thế yếu hơn về thông tin, khả năng thương lượng và năng lực chứng minh. Một cú nhấp chuột, một mã OTP, một chữ ký số hay một file PDF không thể tự nó thay thế cho sự hiểu biết, tự nguyện và công bằng. Công nghệ làm cho việc ký nhanh hơn, nhưng không làm cho việc hiểu chậm hơn và quyền lợi của NLĐ trở nên mờ hơn.


Pháp luật Việt Nam đã thừa nhận HĐLĐ điện tử. Bộ luật Lao động cho phép HĐLĐ được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu và có giá trị như HĐLĐ bằng văn bản. Nghị định 337/2025/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tiếp tục quy định HĐLĐ điện tử là hợp đồng được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, có giá trị pháp lý như HĐLĐ bằng văn bản.

Lưu ý, mốc 1/7/2026 không có nghĩa là mọi DN phải bỏ HĐLĐ giấy để chuyển sang HĐLĐ điện tử. Nghị định 337 chỉ khuyến khích sử dụng HĐLĐ điện tử thay thế HĐLĐ giấy trong quản trị nhân sự và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan. Mốc 1/7/2026 là thời điểm chậm nhất để nền tảng HĐLĐ điện tử phải được đưa vào vận hành, và việc giao kết HĐLĐ điện tử sẽ được áp dụng kể từ thời điểm đó.

Thực chất, đây không chỉ là việc thay cây bút mực bằng chữ ký số mà còn là việc đưa HĐLĐ vào một hệ sinh thái dữ liệu mới. Theo Nghị định 337, việc giao kết HĐLĐ điện tử phải thực hiện thông qua eContract đáp ứng các điều kiện về phần mềm ký số, kiểm tra chữ ký số, bảo mật thông tin, lưu trữ toàn vẹn dữ liệu, khả năng tra cứu, định danh đúng chủ thể, xác thực danh tính, xác nhận sự đồng ý với nội dung hợp đồng, chứng thực hợp đồng trước khi gửi về nền tảng để gắn ID, và kết nối với nền tảng HĐLĐ điện tử qua API. NLĐ, DN và nhà cung cấp eContract cũng phải đáp ứng các điều kiện nhất định về giấy tờ định danh, chữ ký số, dấu thời gian và dịch vụ tin cậy.

Nếu nhìn ở góc độ tích cực, đây là một bước tiến đáng kể. Một DN có hàng trăm lao động ở nhiều địa phương có thể giảm rất nhiều thời gian ký, gửi, lưu trữ và tra cứu hợp đồng. NLĐ ở xa không phải đi lại chỉ để ký một tờ giấy. Phụ lục hợp đồng, thỏa thuận tạm hoãn, văn bản sửa đổi, thông báo chấm dứt hợp đồng cũng có thể được gắn kèm trong hồ sơ để truy xuất lịch sử. Nếu làm đúng, HĐLĐ điện tử không còn là một file PDF cô đơn trong máy tính của phòng nhân sự, mà là một hồ sơ sống đi theo NLĐ từ ngày nhận việc đến ngày nghỉ việc.

Tuy nhiên, rủi ro cũng bắt đầu từ đó. Khi HĐLĐ trở thành dữ liệu, nó không còn nằm yên trong tủ hồ sơ có khóa mà đi qua hệ thống eContract, nhà cung cấp dịch vụ, nền tảng HĐLĐ điện tử, chữ ký số, dữ liệu định danh, dấu thời gian, nhật ký giao dịch và có thể kết nối với nhiều cơ sở dữ liệu khác. Nếu vệt dữ liệu ấy đầy đủ, toàn vẹn và bảo mật thì rất có giá trị để chứng minh. Nhưng nếu bị quản lý lỏng lẻo, mất log, mất quyền truy cập, rò rỉ thông tin, hoặc không chứng minh được người ký thật sự là ai, thì công nghệ không còn là áo giáp mà có thể trở thành một điểm yếu.

Trong tranh chấp lao động, câu hỏi không chỉ là có HĐLĐ hay không mà là HĐLĐ đó được ký thế nào, ai ký, ký lúc nào, bằng phương thức xác thực nào, NLĐ có được gửi bản hoàn chỉnh không, bản đó có bị thay đổi không, có còn truy xuất được không, hệ thống có chứng minh được toàn bộ quá trình hình thành sự đồng thuận hay không. Một HĐLĐ giấy có chữ ký đôi khi chỉ cho thấy kết quả cuối cùng, nhưng một HĐLĐ điện tử tốt có thể cho thấy cả hành trình ký kết. Tuy nhiên, một HĐLĐ điện tử làm vội lại có thể khiến DN lúng túng hơn cả HĐLĐ giấy, vì lúc đó thứ mất không chỉ là tờ giấy, mà còn là toàn bộ dấu vết cần thiết để chứng minh.

Cần nhấn mạnh rằng HĐLĐ điện tử không chỉ phục vụ quan hệ lao động mà còn liên quan trực tiếp đến kế toán, thuế và bảo hiểm xã hội (BHXH). Về kế toán, Nghị định 174/2016/NĐ-CP quy định tài liệu kế toán phải lưu trữ bao gồm chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu khác có liên quan đến kế toán. Việc lưu trữ có thể bằng giấy hoặc phương tiện điện tử, nhưng phải bảo đảm an toàn, đầy đủ, bảo mật và có thể cung cấp khi cơ quan nhà nước yêu cầu. Một số tài liệu kế toán dùng trực tiếp để ghi sổ, lập báo cáo tài chính phải được lưu giữ tối thiểu 10 năm. Vì vậy, nếu HĐLĐ, phụ lục hợp đồng, thỏa thuận lương thưởng, phụ cấp và phúc lợi được dùng làm căn cứ hạch toán chi phí, DN nên xem chúng là một phần của hồ sơ kế toán cần được lưu trữ một cách thận trọng.

Về thuế, HĐLĐ càng không phải là thứ ký rồi để yên. Chi phí tiền lương, tiền công, thưởng và các khoản chi cho NLĐ muốn được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập DN thì phải có đủ căn cứ, chứng từ và phù hợp với quy định về thuế. Các quy định mới về thuế thu nhập DN, trong đó có Nghị định 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/12/2025, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu về chứng từ và thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản chi theo quy định của pháp luật. Nói đơn giản, HĐLĐ điện tử có thể là “tấm căn cước” quan trọng của khoản chi lương, nhưng nó chỉ có ý nghĩa khi đi kèm bảng lương, chứng từ thanh toán, quy chế thưởng, phụ lục hợp đồng và hồ sơ thuế đầy đủ.

Về BHXH, HĐLĐ là căn cứ quan trọng để xác định đối tượng tham gia, thời điểm tham gia và tiền lương làm căn cứ đóng. Luật BHXH 2024 quy định NLĐ Việt Nam làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ từ đủ 1 tháng trở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Luật cũng mở rộng cách nhìn khi không chỉ căn cứ vào tên gọi của HĐLĐ, mà còn nhìn vào nội dung có việc làm, tiền lương, sự quản lý, điều hành, giám sát hay không. Do đó, HĐLĐ điện tử, nếu được lưu trữ và kết nối tốt, sẽ giúp DN giải trình tốt hơn với cơ quan BHXH. Ngược lại, nếu HĐLĐ một nơi, bảng lương một nơi, dữ liệu BHXH một kiểu, thì chuyển đổi số chỉ là lớp sơn bóng phủ lên một bức tường còn nhiều vết nứt.

Cao trào rủi ro thường không xảy ra vào ngày ký. Ngày ký bao giờ cũng đẹp. Email gửi đi, hệ thống báo hoàn tất, nhân sự thở phào, NLĐ nhận việc, ai cũng vui. Rủi ro thường xuất hiện sau vài năm, khi NLĐ nghỉ việc, phát sinh tranh chấp, DN bị thanh tra lao động, kiểm tra thuế hoặc rà soát BHXH. Lúc ấy, cơ quan chức năng hỏi HĐLĐ đâu, phụ lục đâu, căn cứ trả thưởng đâu, chứng từ chuyển khoản đâu, log ký đâu, bản đã gửi cho NLĐ đâu. Nếu nhà cung cấp eContract cũ đã ngừng dịch vụ, hệ thống cũ không còn truy cập được, hoặc file lưu trữ không thể chứng minh tính toàn vẹn, thì cái từng được gọi là chuyển đổi số có thể trở thành một câu hỏi rất khó trả lời.

Tất nhiên, không nên vì những rủi ro đó mà quay lưng với HĐLĐ điện tử. Nếu làm đúng, đây là một công cụ rất tốt. Nó giúp NLĐ có hợp đồng rõ ràng, dễ tra cứu, dễ sử dụng khi cần làm thủ tục hành chính, vay vốn, chứng minh thu nhập hoặc bảo vệ quyền lợi. Nó giúp DN quản trị nhân sự minh bạch hơn, giảm thất lạc hồ sơ, chuẩn hóa quy trình, kết nối dữ liệu lao động với thuế, kế toán, BHXH và các thủ tục hành chính khác. Nó cũng giúp cơ quan nhà nước có dữ liệu tốt hơn để quản lý thị trường lao động, tiền lương và an sinh xã hội.

Vấn đề là DN không nên triển khai HĐLĐ điện tử với tâm thế mua một phần mềm rồi giao hết cho phòng nhân sự. Cần rà soát mẫu hợp đồng, thẩm quyền ký, quy trình xác thực, chữ ký số, cách gửi bản hợp đồng cho NLĐ, chính sách lưu trữ, phân quyền truy cập, bảo mật dữ liệu, thời hạn lưu hồ sơ, khả năng chuyển đổi sang bản giấy, phương án dự phòng khi hệ thống bị lỗi và trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ. Cũng cần hướng dẫn NLĐ bằng ngôn ngữ dễ hiểu để họ biết mình đang ký gì, lưu ở đâu, truy cập như thế nào và phải làm gì nếu phát hiện sai sót.

HĐLĐ điện tử vừa tối ưu vừa tiềm ẩn rủi ro. Nó tối ưu nếu DN xem đây là một phần của quản trị pháp lý và quản trị dữ liệu. Nó rủi ro nếu DN xem đây chỉ là thao tác thay giấy bằng file. Một HĐLĐ giấy ký cẩu thả đã nguy hiểm. Một HĐLĐ điện tử ký cẩu thả còn nguy hiểm hơn, vì sự cẩu thả ấy có thể nhân lên rất nhanh, rất rộng và rất khó sửa.

Sau cùng, câu hỏi không phải là liệu HĐLĐ điện tử có tốt hay không mà là DN có đủ trưởng thành để dùng nó một cách tử tế không. Công nghệ giúp HĐLĐ được ký trong vài phút, nhưng niềm tin trong quan hệ lao động không thể được xây dựng trong thời gian đó. Nó cần sự minh bạch, sự cẩn trọng, sự tôn trọng NLĐ và một hệ thống đủ vững để nhiều năm sau nhìn lại, cả hai bên vẫn có thể nói rằng HĐLĐ này không chỉ được ký đúng, mà còn được hiểu, lưu và sử dụng đúng.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Khám sức khỏe để làm gì?

  Khám sức khỏe để làm gì? (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners) Vài ngày gần đây, tôi có dịp đi khám sức khỏe ...