Khám sức khỏe để làm gì?
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty
luật Phuoc & Partners)
Vài
ngày gần đây, tôi có dịp đi khám sức khỏe để hoàn tất thủ tục liên quan đến việc
gia hạn giấy phép lái xe ô tô. Tôi đến một cơ sở y tế có chức năng khám sức khỏe,
có con dấu tròn, đóng vài trăm nghìn đồng, nhận bộ hồ sơ rồi lần lượt đi qua
các khoa theo hướng dẫn. Điều khiến tôi ngạc nhiên là mọi việc diễn ra rất
nhanh, mỗi khoa chỉ chừng một, hai phút, có nơi hỏi vài câu qua loa về bệnh nền,
tôi trả lời, thông tin được ghi vào biểu mẫu, một số chỉ số được kiểm tra, bác
sĩ ký rồi tôi lại cầm hồ sơ sang phòng tiếp theo. Nhanh, gọn, thuận tiện, gần
như không có gì để phàn nàn về mặt thủ tục, nhưng chính vì mọi việc trôi qua
quá nhanh nên khi cầm giấy khám sức khỏe trên tay, tôi lại chợt tự hỏi: mình
vừa thực sự được khám sức khỏe, hay vừa hoàn thành một quy trình để có giấy chứng
nhận sức khỏe?
Tôi
không phải bác sĩ và cũng không cho rằng cứ khám 1–2 phút là sai hoặc kém chất
lượng, bởi có những chỉ số đơn giản hoàn toàn có thể được kiểm tra trong thời
gian ngắn; một cơ sở y tế tổ chức tốt cũng có thể rút ngắn đáng kể thời gian chờ
đợi mà vẫn bảo đảm chất lượng chuyên môn. Có thể nơi tôi khám đã thực hiện đầy
đủ những gì quy trình yêu cầu, và tôi cũng không có cơ sở để nói ngược lại.
Nhưng chính điều đó lại khiến câu hỏi trở nên đáng suy nghĩ hơn: nếu tất cả đều
làm đúng quy trình mà người được khám vẫn khó biết kết quả ấy phản ánh tình trạng
sức khỏe của mình chính xác đến đâu, có lẽ vấn đề không nhất thiết nằm ở bác sĩ
hay cơ sở y tế, mà nằm ở chính cách chúng ta thiết kế một thủ tục vốn được xã hội
trao cho giá trị rất lớn.
Một
buổi khám phải đi qua nhiều khoa, nhưng tổng chi phí chỉ vài trăm nghìn đồng
thì khó có thể cùng lúc đáp ứng 3 yêu cầu: nhanh, rẻ và đủ sâu để phát hiện nhiều
bệnh lý tiềm ẩn. Khoản phí ấy còn phải trang trải tiền công bác sĩ, điều dưỡng,
nhân viên hành chính, thiết bị, nguyên vật liệu, mặt bằng và nhiều chi phí vận
hành khác; vì thế, không thể kỳ vọng một buổi khám hành chính như vậy có giá trị
tương đương một lần kiểm tra sức khỏe toàn diện với xét nghiệm và chẩn đoán
chuyên sâu. Điều đáng nói hơn là một phần thông tin về bệnh sử lại được thu thập
từ chính lời khai của người đang cần được chứng nhận là “đủ sức khỏe”, và ở đây
bắt đầu xuất hiện một khoảng trống mà bất kỳ hệ thống quản lý nào cũng nên tính
đến.
Người
được khám có thể thật sự không biết mình đang mắc bệnh, bởi nhiều bệnh ở giai
đoạn đầu ít biểu hiện và chỉ được phát hiện khi xét nghiệm hoặc kiểm tra chuyên
sâu, nhưng cũng có khả năng họ biết mà không khai. Động cơ của việc che giấu
này không khó hiểu, bởi người đi khám sức khỏe để hoàn thành thủ tục hành chính
thường không đến vì muốn tìm bệnh, họ đến vì cần một kết luận thuận lợi để xin
việc, làm hoặc gia hạn giấy phép lái xe, điều khiển tàu thuyền hay hoàn tất một
điều kiện pháp lý nào đó; nếu việc khai một bệnh nền có thể khiến phải khám
thêm, mất thời gian và tốn kém hơn hoặc thậm chí không đạt điều kiện, sẽ luôn tồn
tại khả năng một số người lựa chọn im lặng. Vì thế, nếu hệ thống tin rằng người
dân có thể tự khai trung thực thì có thể cân nhắc cho họ tự khai và chịu trách
nhiệm pháp lý về lời khai; còn nếu cho rằng tự khai chưa đủ đáng tin nên phải
có bác sĩ xác nhận thì cuộc khám phải tạo thêm một tầng kiểm chứng độc lập và
có ý nghĩa. Điều khó hiểu nhất chính là trạng thái ở giữa: người dân không được
tự khai để hoàn tất thủ tục, nhưng bác sĩ lại phải dựa một phần vào chính lời
khai ấy để cấp giấy xác nhận.
Nghịch
lý càng rõ hơn sau khi tờ giấy được ký và đóng dấu. Quá trình tạo ra thông tin
có thể chỉ diễn ra vài phút ở mỗi khoa, nhưng khi bước ra khỏi cơ sở y tế, kết
quả ấy lập tức được trao một giá trị đáng kể. Cơ quan cấp giấy phép lái xe
không thể khám lại từng người nộp hồ sơ, doanh nghiệp tuyển dụng cũng không thể
kiểm chứng từng kết luận chuyên môn, vì thế, họ có lý do chính đáng để tin vào
giấy chứng nhận do một cơ sở y tế có thẩm quyền cấp. Nói cách khác, đầu vào
có thể có độ xác thực giới hạn nhưng đầu ra lại được sử dụng với mức độ tin cậy
rất cao, hay nói ngắn gọn hơn là tình trạng “khám nhẹ nhưng tin nặng”.
Hãy
lấy thị lực làm một ví dụ dễ hình dung. Cận thị tự nó không đồng nghĩa với việc
không đủ điều kiện lái xe, bởi một người bị cận nhưng được điều chỉnh bằng kính
và đạt chuẩn thị lực vẫn có thể lái xe an toàn. Nhưng giả sử một người có thị lực
thực tế không đạt yêu cầu, khai báo không đúng, việc kiểm tra vì lý do nào đó
không phát hiện và cuối cùng vẫn được xác nhận đủ sức khỏe; sau đó người ấy gây
tai nạn mà nguyên nhân có liên quan trực tiếp đến khả năng quan sát thì trách
nhiệm sẽ nằm ở đâu? Người lái xe trước hết phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình và việc cố tình khai gian, nếu có, nhưng cơ sở y tế đã kiểm tra và xác nhận
thì trách nhiệm chuyên môn đến đâu, còn cơ quan cấp phép, vốn không có chức
năng y khoa và không thể khám lại hàng triệu người, có thể làm gì khác ngoài việc
tin vào một giấy chứng nhận hợp lệ?
Câu
chuyện còn có thể phức tạp hơn khi doanh nghiệp bảo hiểm xuất hiện sau khi tai
nạn xảy ra. Không thể nói cứ giấy khám sức khỏe có sai sót thì bảo hiểm đương
nhiên được quyền từ chối chi trả, bởi bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và bảo
hiểm vật chất xe có cơ chế pháp lý khác nhau, quyền lợi của người thứ ba bị thiệt
hại cũng cần được bảo vệ, còn việc có chi trả, giảm chi trả hay phát sinh quyền
yêu cầu hoàn trả sẽ phụ thuộc vào pháp luật, hợp đồng, lỗi và quan hệ nhân quả
trong từng trường hợp. Tuy nhiên, nếu một người cố tình che giấu tình trạng sức
khỏe, giấy chứng nhận không phản ánh đúng thực tế và tai nạn lại có liên quan đến
chính tình trạng đó, thì nguy cơ phát sinh tranh chấp là hoàn toàn có thể xảy
ra. Khi ấy, một tờ giấy chỉ đáng vài trăm nghìn đồng có thể kéo theo năm chủ thể
gồm người lái xe, nạn nhân, cơ sở y tế, cơ quan cấp phép và doanh nghiệp bảo hiểm;
người lái nói mình có bằng hợp lệ và đã được xác nhận đủ sức khỏe, cơ quan cấp
phép nói hồ sơ có giấy chứng nhận hợp lệ, cơ sở y tế có thể nói người khám
không khai bệnh hoặc tại thời điểm khám không phát hiện bất thường, còn doanh
nghiệp bảo hiểm lại xem xét điều kiện hợp đồng và nguyên nhân tai nạn. Mỗi bên
đều có lý lẽ của mình, chỉ có người bị tai nạn là chưa từng tham gia vào bất kỳ
khâu nào trước đó.
Nếu
câu chuyện chỉ là vài trăm nghìn đồng tôi vừa trả thì có lẽ chẳng đáng để bàn,
nhưng hãy nhân khoản tiền đó với số người đi xin việc, làm hoặc gia hạn giấy
phép lái xe, tàu thuyền và những thủ tục khác cần giấy khám sức khỏe mỗi năm, rồi
cộng thêm tiền đi lại, thời gian chờ đợi và số giờ lao động bị mất, chi phí xã
hội sẽ không còn nhỏ. Một khoản tiền nhìn riêng lẻ có vẻ không đáng kể, nhưng
khi lặp lại hàng triệu lần lại trở thành một nguồn lực rất lớn, nhất là khi người
dân thường phải tự chi trả cho loại dịch vụ phục vụ thủ tục hành chính này.
Còn
một chi phí khác khó nhìn thấy hơn là thời gian của hệ thống y tế. Một bác sĩ
dành một, hai phút cho một người nghe có vẻ chẳng đáng bao nhiêu, nhưng hàng
triệu lần một, hai phút là bao nhiêu giờ làm việc của bác sĩ, điều dưỡng, nhân
viên y tế, bao nhiêu thời gian sử dụng phòng khám và thiết bị? Trong khi đó,
Chính phủ đang triển khai chủ trương khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc cho
người dân trên phạm vi rộng, hướng đến việc phát hiện bệnh sớm, phòng bệnh và
quản lý sức khỏe lâu dài. Đây là một chủ trương đáng ủng hộ, nhưng cũng đòi hỏi
một nguồn lực y tế và ngân sách rất lớn, vì vậy càng có lý do để rà soát các cuộc
khám sức khỏe hành chính nhằm tránh việc cùng một người được hệ thống y tế khám
nhiều lần nhưng các kết quả lại không được kết nối với nhau.
Nếu
một người vừa được Nhà nước khám sức khỏe định kỳ miễn phí, đã có những thông
tin và chỉ số phù hợp còn giá trị, thì tại sao vài tháng sau lại phải đến một
cơ sở y tế khám lại chỉ để lấy một mẫu giấy khác? Với sự đồng ý của người dân
và cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân chặt chẽ, những kết quả phù hợp hoàn toàn có
thể được tái sử dụng, còn những tiêu chí đặc thù cho lái xe hay một nghề nghiệp
nhất định thì chỉ cần kiểm tra bổ sung. Nếu không làm được điều đó, chúng ta có
thể đứng trước một nghịch lý: Nhà nước huy động một nguồn lực lớn để khám sức
khỏe thật cho người dân, còn người dân vẫn tiếp tục bỏ thêm tiền và hệ thống y
tế vẫn tiếp tục bỏ thêm thời gian để khám lại nhằm tạo ra một giấy chứng nhận
phục vụ thủ tục.
Cũng
cần nhìn vào cơ chế tài chính của dịch vụ này một cách công bằng. Khám sức khỏe
hành chính thường do người dân tự trả tiền, còn khoản thu được hạch toán và sử
dụng tùy theo loại hình cũng như cơ chế tài chính của từng cơ sở y tế, vì thế
không thể đơn giản kết luận rằng tiền ấy đều đi vào ngân sách, càng không thể
quy kết rằng cơ sở y tế có nguồn thu nên cố tình khám hời hợt. Tuy nhiên, một hệ
thống quản trị tốt không chỉ nhìn vào ý định của người thực hiện mà còn phải
xem xét động lực mà cơ chế đó tạo ra. Nếu nguồn thu tăng theo số lượt khám
trong khi khách hàng lại có xu hướng lựa chọn nơi “nhanh, tiện, lấy giấy sớm”,
thì về mặt kinh tế có thể hình thành động lực ưu tiên tốc độ và số lượng. Điều
đó không chứng minh ai làm sai, nhưng đủ để đặt câu hỏi liệu cơ chế giám sát hiện
nay đã chú trọng đúng mức đến chất lượng đầu ra hay chưa, thay vì chỉ kiểm tra
cơ sở có đủ điều kiện, giấy tờ có đúng mẫu, bác sĩ có ký và con dấu có đầy đủ
hay không.
Lãng
phí đôi khi không xuất hiện dưới hình thức một dự án nghìn tỷ đồng mà được hình
thành từ hàng triệu thủ tục nhỏ đến mức từng người đều nghĩ “có mất bao nhiêu
đâu”. Người dân cần giấy, cơ sở y tế cung cấp dịch vụ và thu phí, cơ quan quản
lý nhận đủ thành phần hồ sơ; xét riêng từng mắt xích, mọi thứ đều có vẻ hợp lý,
nhưng khi ghép lại, chúng ta vẫn phải hỏi mục tiêu quan trọng nhất là phát hiện
những người thực sự không đủ sức khỏe đã đạt được ở mức nào.
Tuy
nhiên, giải pháp không nên là bỏ toàn bộ việc khám sức khỏe, bởi một nhân viên
văn phòng rõ ràng khác với tài xế xe khách đường dài, người lái ô tô gia đình
cũng khác với người điều khiển tàu thủy, xe tải nặng hay phương tiện vận tải
công cộng. Rủi ro đối với cộng đồng càng lớn thì tiêu chuẩn sức khỏe càng phải
nghiêm ngặt, nhưng chính vì thế, chúng ta nên chuyển từ cách khám đại trà sang
quản lý theo mức độ rủi ro. Ở Anh, người lái xe có nghĩa vụ thông báo những
tình trạng sức khỏe có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và tùy trường hợp cơ
quan quản lý mới yêu cầu thêm thông tin y khoa hoặc đánh giá; New Zealand cũng
kết hợp khai báo sức khỏe với yêu cầu chứng nhận y tế trong những trường hợp nhất
định, đặc biệt là các nhóm có nguy cơ cao, còn Singapore phân tầng yêu cầu theo
độ tuổi, loại giấy phép và tình trạng sức khỏe. Việt Nam không cần sao chép
nguyên xi mô hình nào, nhưng có thể tham khảo một nguyên tắc khá hợp lý: không
dùng cùng một chiếc lưới cho tất cả mọi người.
Người
thuộc nhóm nguy cơ thấp có thể được nghiên cứu cho tự khai sức khỏe điện tử và
chịu trách nhiệm pháp lý nếu cố tình che giấu bệnh thuộc diện bắt buộc khai; những
gì có thể kiểm tra khách quan và liên quan trực tiếp đến an toàn, như thị lực,
thì đừng chỉ hỏi mà hãy đo; khi phát hiện yếu tố nguy cơ mới chuyển sang đánh
giá chuyên sâu. Ngược lại, với tài xế chuyên nghiệp, người điều khiển phương tiện
vận tải công cộng, tàu thuyền hoặc những nghề mà một sự cố sức khỏe có thể đe dọa
nhiều người, việc khám phải đủ sâu, đủ thời gian và có mức chi phí tương xứng,
bởi khi ấy xã hội đang thực sự bỏ tiền để mua sự an toàn chứ không phải mua
thêm một tờ giấy.
Trách
nhiệm cũng phải được đặt đúng chỗ. Người dân chịu trách nhiệm về những bệnh sử
mà mình biết nhưng cố tình che giấu, cơ sở y tế chịu trách nhiệm đối với những
tiêu chí mà họ trực tiếp kiểm tra và xác nhận, còn cơ quan cấp phép chịu trách
nhiệm về việc thiết kế và vận hành một hệ thống đủ an toàn để có thể tin vào dữ
liệu đầu vào. Đừng để đến khi tai nạn xảy ra, tờ giấy “đủ sức khỏe” lại trở
thành chiếc ô mà tất cả các bên cùng tìm cách đứng dưới.
Sau
lần đi khám vừa rồi, điều khiến tôi suy nghĩ không phải là vài trăm nghìn đồng mà
mình đã trả. Nếu số tiền và thời gian ấy thực sự giúp phát hiện những người
không đủ sức khỏe để lái xe, làm những nghề nguy hiểm và nhờ đó ngăn được tai nạn
thì hoàn toàn đáng giá. Nhưng nếu mỗi khoa chỉ một, hai phút, bệnh sử phần nào
vẫn dựa vào lời khai, người khám vẫn có khả năng che giấu bệnh, trong khi kết
quả cuối cùng lại được xã hội sử dụng như một chứng nhận đáng tin cậy, thì
chúng ta nên hỏi lại: giấy khám sức khỏe đang thực sự kiểm soát rủi ro, hay
đôi khi chỉ tạo cho chúng ta cảm giác rằng rủi ro đã được kiểm soát?
Có
lẽ nguyên tắc cải cách không quá phức tạp: cái gì đo được thì đo thật, cái gì
phải khai thì buộc khai trung thực và chịu trách nhiệm, người có nguy cơ thấp
thì giảm thủ tục, người có nguy cơ cao thì khám thật kỹ, còn dữ liệu sức khỏe
đã có và còn giá trị thì nên được tái sử dụng thay vì bắt người dân làm lại từ đầu.
Số hóa, xét cho cùng, không phải là biến tờ giấy thành một file PDF, mà là để
người dân không phải đi qua cùng một thủ tục nhiều lần chỉ vì các cơ quan chưa
nói chuyện được với nhau.
Và
khi cả nước đang cần một nguồn lực y tế rất lớn để sàng lọc, phát hiện bệnh sớm
và chăm sóc sức khỏe cho người dân, có lẽ chúng ta càng nên hỏi một câu đơn giản
hơn nữa: mỗi giờ của bác sĩ nên được dùng để tạo thêm một chữ ký trên giấy,
hay để phát hiện thêm một người đang mang bệnh mà chính họ chưa biết?
Nếu
câu hỏi ấy vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục, có lẽ thứ cần được “khám” lại
trước tiên không phải là sức khỏe của người dân, mà là sức khỏe của chính thủ
tục khám sức khỏe.
Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.