Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Bớt nhà, thêm đời

 

Bớt nhà, thêm đời

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước - Công ty luật Phuoc & Partners)

Tôi biết một người anh đã ngoài sáu mươi tuổi có 3 căn nhà. Một căn để ở, một căn cho thuê, một căn thì “để đó”. Căn để ở thì không bán rồi, vì đó là tổ ấm. Căn cho thuê cũng không nên bán, vì mỗi tháng có thêm tiền để chi tiêu sinh hoạt. Căn để đó lại càng không thể bán, vì “biết đâu vài năm nữa còn lên giá”.

Nhưng khi bác sĩ khuyên ông nên điều trị bệnh tim ở một nơi tốt hơn, ông lại ngần ngại. Khi vợ muốn thuê người giúp việc nhà, ông bảo: “tốn quá”. Khi bạn bè cũ rủ đi một chuyến du lịch xa lúc chân còn khỏe, ông hẹn “để xem”. Khi con gái cần một khoản hỗ trợ để mua căn hộ đầu tiên, ông nói: “tụi con phải tự lập rồi.”

Ông giàu theo cách nhiều người Việt mơ ước: có nhà, nhưng ông nghèo theo một cách ít ai gọi tên, đó là không dám dùng tài sản của mình để sống tốt hơn.

Tôi không nghĩ đó là chuyện cá biệt. Với nhiều gia đình Việt Nam, nhà đất không chỉ là tài sản Nó là bằng chứng của thành công, là phần thưởng sau nhiều năm nhịn ăn nhịn mặc, là chiếc áo giáp chống lại bất trắc, là niềm kiêu hãnh âm thầm trước họ hàng, hàng xóm. Một cuốn sổ đỏ nhiều khi không chỉ nằm trong két sắt mà nằm trong cảm giác an toàn của cả đời người.

Điều đó có lý do lịch sử của nó. Nhiều thế hệ đã đi qua nghèo khó, biến động nghề nghiệp, lạm phát, những giai đoạn tiền mất giá, việc làm bấp bênh, và hệ thống an sinh xã hội chưa đủ vững. Trong hoàn cảnh ấy, mua được một căn nhà hay một miếng đất là cách để người ta tự bảo vệ mình. Đất không thể bỏ trốn, còn nhà thì không thể phá sản. Một mảnh đất im lặng nhưng mang đến cho người sở hữu cảm giác: dù đời có ra sao, mình vẫn còn một chỗ dựa.

Vì vậy, nói “bán bớt nhà để sống” rất dễ bị hiểu nhầm. Nó có thể bị xem là lời khuyên phung phí, cổ vũ hưởng thụ, hoặc xa lạ với số đông vẫn đang mơ về căn nhà đầu tiên. Nhưng tôi không nói về người chỉ có một mái nhà để ở. Tôi cũng không nói về chuyện bán tháo tài sản, bán trong lúc hoảng loạn, hay đem tiền cả đời tích cóp ném vào những cuộc vui nhất thời. Càng không thể có một lời khuyên chung cho mọi gia đình, mọi thị trường, mọi hoàn cảnh.

Điều đáng bàn ở đây là một câu hỏi khác: khi một người có nhiều hơn nhu cầu ở thật, đã bước sang tuổi cần chăm sóc sức khỏe, cần sự nhẹ nhõm, cần thời gian sống tử tế hơn, thì tài sản ấy còn đang phục vụ họ hay họ đang phục vụ tài sản?



Tài sản được tạo ra để bảo vệ cuộc sống con người. Nhưng trong nhiều gia đình, đến một giai đoạn nào đó, tài sản lại âm thầm đổi vai từ người hầu trở thành ông chủ. Chủ nhân căn nhà không còn quyết định cuộc sống theo nhu cầu thật của mình, mà theo nỗi sợ mất đi một tài sản. Họ không dám bán, chuyển đổi, tiêu dùng, nghỉ ngơi. Họ sống dè sẻn với những thứ có giá trị lớn nhưng không trực tiếp khiến một ngày của họ dễ chịu hơn.

Một căn nhà có thể tăng giá theo thời gian nhưng một năm khỏe mạnh của tuổi già thì không thể quay lại. Đầu gối không chờ thị trường thuận lợi, lá phổi không đợi đất lên thêm vài phần trăm, hay một người bạn đời không thể mãi ngồi đó để nghe lời hứa “khi nào bán được căn nhà kia, mình sẽ đi chơi”. Có những thứ, nếu để quá muộn mới mua, tiền sẽ không còn đủ sức mua nữa.

Tất nhiên, giữ nhà có thể là lựa chọn đúng, nếu một căn nhà tạo ra dòng tiền ổn định, giúp chủ nhân an tâm, không gây tranh chấp, không làm họ kiệt sức vì việc quản lý, thì nó đang làm đúng vai trò của một tài sản. Nếu một miếng đất là phần bảo hiểm cần thiết trước rủi ro lớn, thì cũng không ai nên vội vàng buông bỏ. Nếu cha mẹ muốn dành lại tài sản cho con, đó là một tình yêu đáng trân trọng.

Nhưng không phải tài sản nào được giữ lại cũng vì một kế hoạch rõ ràng. Có khi nó được giữ lại vì thói quen, vì sợ bị đánh giá, vì ngại con cái trách, vì hàng xóm sẽ bảo “bán đất là xuống đời”, hoặc đơn giản vì người ta chưa từng học cách rút lui khỏi tài sản. Chúng ta nói nhiều về nghệ thuật mua nhà, chọn đất, đón sóng, giữ tài sản, nhưng nói quá ít về nghệ thuật bán đúng lúc, đúng phần, bán để chuyển từ tích lũy sang sống tốt.

Bán bớt nhà không phải là ăn vào vốn nếu số tiền ấy được dùng để bảo vệ phẩm giá tuổi già, như điều trị tốt hơn, thuê người chăm sóc, cải tạo nơi ở, lập quỹ sinh hoạt, đi những chuyến đi xa du lịch còn đủ sức, hoặc giúp con cái đúng lúc mà không biến chúng thành người phụ thuộc. Một tài sản tốt không nhất thiết phải nằm im mà giá trị cao nhất của nó đôi khi là biết đúng lúc biến thành thuốc men, dịch vụ chăm sóc, thời gian, sự nhẹ lòng và những bữa cơm không còn bị ám ảnh bởi câu “tiếc tiền”.

Nhiều bậc cha mẹ xem việc để lại nhà cho con là bổn phận, nhưng tình yêu ấy đôi khi lại được trao muộn. Một căn nhà được thừa kế khi người con đã năm mươi tuổi có thể không còn ý nghĩa bằng một khoản hỗ trợ vừa phải lúc họ ba mươi tuổi, đang thuê nhà, nuôi con nhỏ, trả nợ ngân hàng và mỗi tháng nhìn bảng lương như nhìn một bản án treo. Giúp con không có nghĩa là nuôi sự ỷ lại. Nhưng nếu tài sản có thể giảm bớt một đoạn đời quá nặng nề cho người thân, ta cũng nên tự hỏi: giữ nguyên mọi thứ đến cuối cùng có phải là lựa chọn nhân văn nhất không?

Ở chiều ngược lại, con cái trưởng thành cũng cần thôi mặc định rằng cha mẹ phải dành phần tốt nhất của đời họ để tích lũy cho thế hệ sau. Cha mẹ có quyền sống tốt bằng tài sản hợp pháp của mình. Họ có quyền bán bớt một căn nhà để chữa bệnh, nghỉ ngơi, thuê người chăm sóc, đi du lịch, học một thú vui mới, hoặc đơn giản là không phải đếm từng khoản chi trong những năm cuối đời. Một người cha, người mẹ có tuổi già chủ động, minh bạch, không phụ thuộc, có khi để lại cho con sự bình an lớn hơn cả một căn nhà chưa kịp phân chia.

Tôi từng thấy nhiều tranh chấp gia đình không bắt đầu từ việc họ thiếu tài sản, mà bắt đầu từ việc tài sản bị giữ im lặng quá lâu. Cha mẹ thì không nói rõ ý định của mình, con cái thì đoán, còn anh chị em thì lại nghi ngờ lẫn nhau. Một căn nhà trở thành phép thử về đạo đức của cả gia đình. Người còn sống thì sợ nói chuyện phân chia là xui xẻo, còn người thừa kế thì chờ đợi trong lúng túng. Đến khi chủ tài sản mất hoặc không còn đủ minh mẫn, tình thân bắt đầu phải ngồi cạnh luật sư, công chứng viên và đôi khi cả tòa án.

Vì vậy, nếu đã nghĩ đến chuyện bán, chuyển nhượng hay phân chia tài sản, điều quan trọng không chỉ là giá bán, mà cần xem xét đầy đủ các yếu tố pháp lý, thuế, nghĩa vụ tài chính, tài sản chung vợ chồng, đồng sở hữu, thế chấp, tranh chấp, di chúc, quyền lợi của người phụ thuộc và nơi ở sau giao dịch. Một quyết định lớn không nên được ký trong cơn mệt mỏi, giận con, sợ bệnh, hay nghe theo lời rủ rê “đang được giá”. Nhưng sự phức tạp pháp lý cũng không nên trở thành cái cớ để không bao giờ đưa ra quyết định.

Không phải ai cũng có nhà để bán bớt vì với nhiều người trẻ, căn nhà đầu tiên vẫn là giấc mơ xa vời. Chính vì vậy, chủ đề này càng đáng được nói một cách công bằng. Một xã hội sẽ rất lạ nếu có một bên mòn mỏi cả đời không mua nổi nhà, còn một bên có nhiều nhà nhưng vẫn không sống tốt hơn. Vấn đề không nằm ở quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mỗi cá nhân, mà ở văn hóa xem việc tích lũy bất động sản là thước đo gần như duy nhất của thành công và sự an toàn.

Nhà để ở là nhu cầu, nhà để đầu tư là quyền, và nhà để dành cho con cháu là tình thương, nhưng nhà không nên trở thành bàn thờ của nỗi sợ. Không nên có chuyện một người già sống trong cô đơn, bệnh tật, thiếu chăm sóc, chỉ để bảo toàn một căn nhà mà chính người đó không còn đủ sức bước qua hết các phòng. Không nên có chuyện một cặp vợ chồng về hưu ăn uống kham khổ, bỏ qua những chuyến đi cuối đời, chỉ để giữ nguyên danh mục tài sản cho đẹp mắt trong mắt người khác.

Có lẽ mỗi người có tài sản nên tự đặt ra vài câu hỏi thẳng, như căn nhà này đang tạo ra giá trị gì cho cuộc sống của tôi? Nếu giữ thêm mười năm, tôi sẽ được gì và mất gì? Nếu bán đi một phần, tôi có thể sống khỏe hơn, nhẹ hơn, tử tế hơn với bản thân và người thân không? Tôi đang giữ tài sản vì kế hoạch rõ ràng, hay vì không đủ can đảm ra quyết định?

Đời người không phải là một bảng cân đối kế toán, nơi tài sản cuối kỳ càng lớn thì cuộc đời càng thành công. Có những người ra đi để lại khá nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài khoản, nhưng những năm cuối đời lại sống trong tiếc nuối và thiếu chăm sóc. Có những người để lại ít hơn, nhưng sống đủ đầy và thanh thản hơn, và con cái nhớ về họ không bằng diện tích đất, mà bằng những bữa cơm, chuyến đi, câu chuyện, tiếng cười.

Sau cùng, không ai mang theo được căn nhà cuối cùng. Thứ con người có thể mang theo, nếu có, là cảm giác rằng mình đã sống tử tế với cuộc đời của mình. Đến một tuổi nào đó, bớt đi một căn nhà có khi không làm ta nghèo đi mà nó chỉ khiến ta nhẹ hơn, và đôi khi, nhẹ hơn chính là một dạng giàu có mà cả đời tích lũy ta mới đủ can đảm để hiểu.

 Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Vì sao giá vàng Việt Nam vẫn cao hơn giá thế giới?

 

Vì sao giá vàng Việt Nam vẫn cao hơn giá thế giới?

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Mỗi lần giá vàng tăng mạnh, thị trường lại xuất hiện một câu hỏi quen thuộc, đó là vì sao giá vàng trong nước thường cao hơn đáng kể so với giá thế giới? Đây không chỉ là thắc mắc của người mua vàng mà còn là câu hỏi về cách vận hành rất đặc thù của thị trường vàng Việt Nam.

Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất là nguồn cung vàng miếng trong nước bị bó hẹp khá lâu trong khi nhu cầu giữ vàng của người dân vẫn cao. Sau giai đoạn vàng hóa mạnh trước đây, khi vàng không chỉ là tài sản tích lũy mà còn được dùng để tham chiếu những giao dịch lớn như bất động sản, Nhà nước đã ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ 25/5/2012 xác lập cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, đồng thời giao Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quản lý xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu và can thiệp bình ổn thị trường vàng. Chính sách đó góp phần chống vàng hóa, giảm áp lực lên tỷ giá và hạn chế rủi ro đối với ngoại hối, nhưng cũng khiến nguồn cung vàng miếng trở nên kém linh hoạt hơn khi nhu cầu tăng mạnh.


Đặt lại bối cảnh lịch sử, sẽ thấy vì sao Nhà nước từng đi theo hướng này. Trong một thời kỳ, vàng không chỉ là tài sản cất giữ mà còn hiện diện trong nhiều giao dịch giá trị lớn. Với bất động sản, chuyện quy đổi hoặc ngầm tham chiếu giá theo vàng từng diễn ra phổ biến. Trong lúc tiền đồng có giai đoạn chịu áp lực mất giá, còn vàng nguyên liệu phải nhập từ nước ngoài bằng ngoại tệ, nhu cầu nắm giữ vàng lớn có thể kéo theo áp lực lên dự trữ ngoại hối và gia tăng lo ngại về dòng ngoại tệ chảy ra ngoài. Vì vậy, mô hình quản lý chặt chẽ thị trường vàng là phản ứng chính sách trước một giai đoạn bất ổn cụ thể, chứ không phải là lựa chọn ngẫu nhiên. Từ đó, chênh lệch giá dần trở thành một đặc điểm của thị trường. Khi nguồn cung bị giới hạn bởi cơ chế quản lý, trong khi nhu cầu nắm giữ vàng vẫn lớn, giá vàng trong nước dễ tách khỏi giá thế giới.

Yếu tố thứ hai là thị trường bán lẻ vàng trong nước chưa đủ sức ép cạnh tranh để khiến giá giảm nhanh theo giá quốc tế. Nói rằng các cửa hàng tư nhân vàng không muốn giảm giá thì đúng một phần, nhưng chưa đủ. Cách nhìn đầy đủ hơn là trong một thị trường nguồn cung hạn chế, tâm lý trú ẩn mạnh và cạnh tranh chưa sâu, giá trong nước thường có độ trễ so với giá thế giới. Một phần từ kỳ vọng của người bán về nhu cầu thị trường và từ chi phí và rủi ro tồn kho, và một phần đến từ việc người mua vẫn chấp nhận giá cao. Vì vậy, mặt bằng giá trong nước không phải lúc nào cũng được điều chỉnh nhanh và sát như thị trường quốc tế.

Điều này thể hiện rõ nhất vào những lúc thị trường nóng lên. Có những thời điểm người dân xếp hàng mua vàng, nhưng một số điểm bán lại thông báo hết hàng hoặc bán ra dè dặt. Hình ảnh đó cho thấy vấn đề không chỉ là giá mà còn là việc vàng có đến được tay người mua cuối cùng thông suốt không. Khi người mua đứng chờ mà vàng vẫn ra nhỏ giọt, thị trường dễ hình thành cảm giác khan hàng, làm giá bị đẩy lên. Đến lúc đó, thị trường không còn phản ứng đơn thuần theo giá thế giới, mà phản ứng theo cả tâm lý thiếu hàng trong nước.

Bài học này lộ rõ qua giai đoạn NHNN can thiệp bằng đấu thầu vàng miếng từ ngày 22/4/2024 sau 11 năm tạm dừng. Tuy nhiên, sau các phiên đấu thầu, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá thế giới vẫn cao. Chính NHNN cho biết, bên cạnh yếu tố cung cầu, không loại trừ khả năng có hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của thị trường. Điều đó cho thấy chỉ tăng cung qua đấu thầu chưa chắc đã giúp vàng đi nhanh đến người mua cuối cùng với mức giá hợp lý.

Từ thực tế đó, NHNN đã đổi cách làm. Từ ngày 3/6/2024, NHNN chuyển sang bán vàng trực tiếp cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước là Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank; sau đó có thêm SJC tham gia bán trực tiếp cho người dân. Điểm quan trọng ở đây là nhà nước không chỉ tăng cung mà còn thay đổi cách phân phối nguồn cung qua những đầu mối có quy mô lớn, minh bạch và có khả năng tạo mặt bằng giá tham chiếu rõ hơn cho thị trường. Khi người dân có thể mua vàng từ các ngân hàng lớn và SJC với mức giá bám sát định hướng điều hành hơn, các cửa hàng vàng tư nhân buộc phải điều chỉnh giá bán để giữ khách. Cơ chế này không bảo đảm mọi nơi giảm giá ngay, nhưng rõ ràng làm tăng sức ép cạnh tranh ở khâu bán lẻ.

Bước ngoặt lớn hơn từ năm 2025 với Nghị định 232/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/10/2025. Nghị định này sửa đổi Nghị định 24 theo hướng xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng. Theo đó, NHNN sẽ cấp phép cho doanh nghiệp và ngân hàng thương mại đủ điều kiện tham gia sản xuất vàng miếng, đồng thời xem xét cấp phép nhập khẩu, xuất khẩu vàng nguyên liệu theo cơ chế quản lý mới. Đây là thay đổi quan trọng vì nó tác động trực tiếp vào gốc của bài toán, là nguồn cung.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng theo Nghị định 232, không có nghĩa là thị trường vàng được mở hoàn toàn . Quyền cấp phép, quản lý hạn mức và kiểm soát hoạt động vẫn nằm trong tay NHNN. Đây là bước chuyển từ mô hình độc quyền tuyệt đối sang mô hình cạnh tranh có điều kiện. Nhà nước đang cố gắng mở rộng nguồn cung và tăng tính cạnh tranh, nhưng vẫn đặt trọng tâm vào ổn định tỷ giá, dự trữ ngoại hối và an toàn tiền tệ. Thông tư 34/2025/TT-NHNN hướng dẫn một số điều của Nghị định 24 càng cho thấy rõ điều đó khi hướng dẫn cơ chế cấp phép, cấp hạn mức xuất nhập khẩu vàng, chế độ báo cáo và kết nối thông tin đối với các chủ thể tham gia thị trường.

Vì vậy, khung pháp lý hiện mở ra khả năng có thêm nhiều chủ thể tham gia sản xuất và phân phối vàng miếng hơn trước, nếu đáp ứng điều kiện và được cấp phép. Đến cuối tháng 12/2025, NHNN đã tiếp nhận gần 10 hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng từ các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện. Điều đó có nghĩa là quá trình mở rộng người tham gia thị trường đã bắt đầu, nhưng vẫn đang triển khai từng bước. Việc có thêm các doanh nghiệp lớn cạnh tranh với nhau, bên cạnh hệ thống ngân hàng tham gia phân phối, sẽ giúp thị trường bớt phụ thuộc vào một nguồn cung quá hẹp như trước.

Một thay đổi khác cũng đáng chú ý của Nghị định số 232 là quy định giao dịch vàng từ 20 triệu đồng trở lên trong ngày phải thực hiện qua tài khoản thanh toán của bên mua và bên bán. Điểm này giúp minh bạch hóa dòng tiền và hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi giao dịch tốt hơn. Nó làm cho việc che giấu doanh thu từ hoạt động kinh doanh vàng trở nên khó hơn, qua đó hỗ trợ kê khai và nộp thuế đầy đủ hơn. Nó cũng góp phần hạn chế việc sử dụng nguồn tiền không rõ ràng. Khi doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vàng được ghi nhận rõ hơn, khả năng thu đúng, thu đủ cho Nhà nước cũng được cải thiện.

Ngoài ra, một hướng đi đáng chú ý trong thời gian tới là Công điện số 12/CĐ-TTg của Thủ tướng ngày 8/2/2026 yêu cầu phải lập sàn vàng hoặc sở giao dịch vàng quốc gia. Lợi ích đầu tiên của mô hình này là tạo cơ chế hình thành giá minh bạch hơn. Khi giao dịch vàng được đưa lên một nền tảng tập trung, có quy chuẩn, có công bố giá và khối lượng, thị trường sẽ bớt phụ thuộc vào tình trạng mỗi nơi báo một giá, mỗi thời điểm một mức chênh khác nhau. Lợi ích thứ hai là tăng thanh khoản và giảm phân mảnh của thị trường, tức là người mua và người bán gặp nhau dễ hơn, qua đó giảm việc giá bị kéo lên quá cao vì khan hiếm cục bộ. Lợi ích thứ ba là không tốn chi phí sản xuất vàng miếng. Sau cùng là tăng khả năng giám sát của Nhà nước, hỗ trợ quản lý rủi ro, quản lý dòng tiền và phát hiện biến động bất thường nhanh hơn.

Điểm tích cực là chính sách hiện nay tạo ra một loạt hướng đi đồng thời bao gồm tăng minh bạch dòng tiền, chuyển từ đấu thầu qua trung gian sang bán trực tiếp qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước và SJC, mở rộng khả năng sản xuất vàng miếng cho nhiều chủ thể đủ điều kiện hơn, cho nhập khẩu vàng có điều tiết và nghiên cứu một sàn giao dịch vàng tập trung. Cách tiếp cận này hợp lý hơn vì nó cùng lúc tác động vào nguồn cung, kênh phân phối, tính minh bạch và cấu trúc cạnh tranh của thị trường. Tuy nhiên, khoảng chênh giá khó có thể biến mất ngay. Việc mở rộng người tham gia thị trường, cấp phép nhập khẩu có điều tiết và tăng minh bạch chắc chắn tạo điều kiện để giá trong nước tiến gần hơn giá thế giới. Nhưng mức độ tiến gần đến đâu còn phụ thuộc vào tốc độ triển khai thực tế, quy mô nhập khẩu, mức độ cạnh tranh trên thị trường bán lẻ và cả nhu cầu nắm giữ vàng của người dân.

Và có lẽ, đây mới là điều đáng nghĩ nhất. Nếu một ngày nào đó giá vàng trong nước thật sự tiến gần hơn với giá thế giới, câu hỏi còn lại có thể sẽ không chỉ là vàng rẻ hơn bao nhiêu. Câu hỏi lớn hơn có lẽ là liệu khi ấy người Việt có còn tìm đến vàng như một nơi trú ẩn mặc định mỗi khi bất an không? Bởi sau cùng, câu chuyện vàng không chỉ nằm ở chính vàng mà còn nằm ở mức độ bình an mà nền kinh tế có thể đem lại cho người dân.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Ly hôn sau song sắt: Bạc nghĩa hay tự cứu mình?

 

Ly hôn sau song sắt: Bạc nghĩa hay tự cứu mình?

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Có những cuộc ly hôn không bắt đầu bằng ngoại tình hay cái tát, cũng không bắt đầu từ những cuộc cãi vã kéo dài. Nó bắt đầu bằng một cuộc điện thoại ngắn: “Anh ơi, chồng em bị bắt rồi.”

Sau câu nói ấy, người vợ bước vào hành trình mà người ngoài thường chỉ thấy được kết quả. Họ thấy lá đơn ly hôn, thấy người vợ bước ra khỏi Tòa, thấy chữ ký dưới tờ giấy mỏng, rồi vội vàng kết luận rằng người ấy bạc tình, thấy chồng sa cơ thì bỏ. Nhưng mấy ai thấy được những đêm chị thức trắng bên cạnh các con đang ngủ, điện thoại tắt vì sợ thêm một cuộc gọi đòi nợ, một người hỏi chuyện chồng, một lời khuyên nghe rất đạo đức nhưng không giúp chị trả học phí cho con.

Trong nghề luật sư, tôi đã gặp không ít người vợ như vậy. Có người đến văn phòng của tôi với đôi mắt khô, không phải vì không đau, mà vì đã khóc quá nhiều đến mức nước mắt cũng biết mệt. Có người mang theo cả xấp giấy tờ nhà đất, hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp, giấy tờ công ty, rồi hỏi một câu rất nhỏ: “Em có bị kéo theo không, luật sư?”. Có người không hỏi tài sản hay được chia bao nhiêu, họ chỉ hỏi: “Nếu anh ấy không chịu ký đơn, em có thể ly hôn được không?”.



Câu trả lời về mặt pháp lý là có thể. Pháp luật Việt Nam không cấm vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn chỉ vì người còn lại đang bị tạm giam, đang bị xét xử hoặc đang chấp hành án phạt tù. Nếu hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, người ở bên ngoài vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Nếu người trong tù không đồng ý, không ký đơn hoặc không thể trực tiếp đến Tòa như trong một vụ ly hôn thông thường, người còn lại vẫn có thể ly hôn đơn phương. Chữ ký của người đang thụ án có thể giúp thủ tục thuận lợi và nhanh hơn nếu hai bên thuận tình, nhưng sự không đồng ý của họ không phải là chiếc khóa vĩnh viễn treo trên cánh cửa hôn nhân. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 ghi nhận quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên và nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn.

Tài sản chung của vợ chồng cũng không biến mất chỉ vì một bên đang thụ án. Khi ly hôn, Tòa án vẫn có thể xem xét việc phân chia tài sản chung nếu có yêu cầu. Tuy nhiên, nếu căn nhà, mảnh đất, chiếc xe, cổ phần hoặc tiền trong tài khoản có liên quan đến vụ án hình sự, đang bị kê biên, phong tỏa, dùng để bồi thường cho bị hại, thi hành án hoặc trả nợ cho bên thứ ba, thì việc chia tài sản sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Ly hôn là quyền, nhưng không phải là chiếc áo tàng hình để che giấu tài sản khỏi trách nhiệm pháp lý.

Một điểm rất hay gặp là tài sản chung đang bị thế chấp tại ngân hàng. Có người vợ tưởng rằng chỉ cần ly hôn là thoát khỏi căn nhà đang thế chấp, thoát khỏi khoản vay mà chồng đã dùng để làm ăn trước khi vào tù. Nhưng pháp lý không vận hành bằng cảm giác nhẹ lòng. Nếu ngân hàng chưa đồng ý, khoản vay và tài sản bảo đảm vẫn sẽ tồn tại. Nếu trước đó cả hai vợ chồng cùng ký vay, cùng ký thế chấp, hoặc khoản vay được xác định là nghĩa vụ chung, thì bản án ly hôn chỉ có thể phân định trách nhiệm giữa hai vợ chồng, chứ không đương nhiên buộc ngân hàng phải “tha” một người ra khỏi nghĩa vụ trả nợ. Bộ luật Dân sự 2015 quy định thế chấp là việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; khi nghĩa vụ không được thực hiện đúng hạn, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận.

Nói một cách đời thường hơn thì vợ chồng có thể chia tay nhau, nhưng ngân hàng thì không “chia tay khoản nợ” dễ dàng như vậy. Có những cuộc hôn nhân đã hết tình, hết nghĩa, nhưng khoản vay vẫn ngồi lại trong căn nhà như một người khách không ai mời mà cũng không dễ đuổi đi.

Điều khiến nhiều người vợ quyết định ly hôn thường không chỉ là việc chồng bị giam. Nếu chỉ vậy thì quá nhẹ với sự thật và quá nặng với người vợ. Nhiều cuộc hôn nhân đã nứt nẻ từ rất lâu trước khi công an gõ cửa. Trước đó có thể là nợ nần, cờ bạc, rượu chè, bạo lực, ngoại tình, những lời hứa sửa đổi lặp lại đến mức người nghe không còn đủ sức tin. Vụ án hình sự đôi khi không phải là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến ly hôn, mà là cơn bão cuối cùng làm sập mái nhà vốn đã mục nát.

Có người vợ chỉ đến khi chồng bị bắt mới biết rằng căn nhà đang ở đã bị thế chấp để vay một khoản tiền lớn. Có người phát hiện mình từng ký vào những giấy tờ mà trước đó chồng nói là “chuyện làm ăn thôi, em ký giúp anh cho nhanh”. Có người nhìn lại mấy năm sống sung túc rồi rùng mình không biết tiền ấy đến từ đâu. Khi ấy, nỗi đau không chỉ là chồng phạm pháp hay bị nghi phạm pháp mà còn là cảm giác mình đã sống trong một căn nhà có nền móng bằng sương mù, tưởng là mái ấm, hóa ra bên dưới có thể là những vết nứt pháp lý đủ để làm gia đình sụp đổ.

Có một người vợ từng nói với tôi rằng chị không sợ nghèo. Nếu chồng làm ăn thất bại, chị có thể bán hàng, làm thuê, dọn về căn nhà nhỏ, cho con học trường bình thường hơn, ăn uống giản dị hơn. Điều chị không chịu nổi là cảm giác mỗi lần nhìn con, chị không biết phải nói gì về cha của chúng. Một đứa hỏi: “Ba đi đâu lâu vậy, Mẹ?”. Đứa kia đã lớn hơn, im lặng hơn, nhưng một hôm đi học về chỉ nói: “Bạn con biết hết rồi.” Người mẹ ấy có thể chịu được lời đàm tiếu của người lớn, nhưng sẽ không chịu nổi ánh mắt của con khi nó bắt đầu hiểu rằng gia đình mình đã trở thành đề tài của người khác.

Cũng có những trường hợp người chồng bị điều tra, truy tố, nhưng sự thật pháp lý còn phải chờ Tòa án làm rõ khá lâu. Trong tố tụng hình sự, người bị buộc tội được xem là không có tội cho đến khi bị chứng minh theo đúng trình tự và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng đời sống hôn nhân không phải lúc nào cũng đủ sức đứng yên chờ đến ngày tất cả được sáng tỏ. Có người vợ chọn chờ vì vẫn còn tin, vẫn còn thương. Có người không chờ nổi, vì trước vụ án, lòng tin đã cạn; sau vụ án, sức lực cũng cạn kiệt. Không phải ai rời đi cũng là người tàn nhẫn, cũng như không phải ai ở lại cũng là người hạnh phúc.

Điều đau đớn nhất trong những vụ ly hôn này thường là con cái. Người lớn còn biết gọi tên các biến cố bằng những thuật ngữ pháp lý như bị can, bị cáo, chấp hành án, kê biên, thi hành án, tài sản chung, nghĩa vụ dân sự, nhưng trẻ con thì không. Chúng chỉ biết ba không còn ăn cơm, mẹ hay khóc trong nhà tắm, ông bà nói nhỏ lại khi chúng bước vào phòng, và một ngày nào đó, có đứa bạn ở lớp hỏi một câu vô tình, khiến chúng nhớ suốt đời. Một đứa trẻ không phạm tội, nhưng có khi phải mang nỗi xấu hổ thay cho người lớn.

Cao trào của những vụ việc này thường không nằm ở phiên tòa mà ở một buổi tối, khi người vợ ngồi trước mâm cơm nguội, nghe con hỏi cha bao giờ về, trong khi điện thoại lại sáng lên với một tin nhắn đòi tiền. Nó nằm ở lần chị đi thăm nuôi, nhìn chồng qua khoảng cách của nội quy trại giam, vừa thương, vừa giận, vừa muốn nắm tay, vừa muốn buông tay. Đó là khoảnh khắc con người bị xé đôi giữa nghĩa vợ chồng và bản năng sinh tồn của người mẹ.

Xã hội Á Đông rất dễ xúc động trước hình ảnh người vợ chờ chồng. Những câu chuyện thủy chung ấy đẹp nếu sự chờ đợi là tự nguyện, nhưng sẽ rất bất công nếu ta lấy vẻ đẹp ấy làm thước đo duy nhất để phán xét tất cả phụ nữ. Không phải ai cũng đủ sức chờ 5, 10 năm hoặc lâu hơn khi tuổi xuân bào mòn theo năm tháng. Không phải ai cũng có điều kiện kinh tế, sức khỏe tinh thần, gia đình hỗ trợ và niềm tin còn nguyên vẹn để biến cuộc đời mình thành một cuộc đợi chờ dài. Tượng đài hy sinh thì không phải đóng học phí, không phải trả lãi ngân hàng, không phải đi họp phụ huynh với đôi mắt cúi xuống. Người phụ nữ ngoài đời phải làm tất cả những việc ấy.

Tôi kính trọng những người vợ ở lại. Có người âm thầm thăm nuôi, giữ nhà, nuôi con, động viên chồng cải tạo, chờ ngày chồng trở về để cả hai làm lại từ đầu. Nhưng tôi cũng không nỡ kết án những người chọn rời đi. Một sự hy sinh chỉ thật sự cao đẹp khi nó được chọn trong tự do, không phải khi bị ép bởi miệng đời. Một cuộc hôn nhân chỉ còn đáng giữ khi trong đó vẫn còn sự thật, sự tôn trọng, lòng tin và khả năng cùng nhau tái thiết.

Sau cùng, ly hôn khi một bên vướng vòng lao lý không phải là câu chuyện đơn giản về thủy chung hay bạc nghĩa, mà là giao điểm của pháp luật, con cái, tài sản, ngân hàng, danh dự, niềm tin và sức chịu đựng của con người. Pháp luật có thể mở cánh cửa ly hôn, chia tài sản, xác định nghĩa vụ chung và riêng, nhưng nó không thể lau nước mắt cho đứa trẻ khi nó nhớ cha, cũng không thể trả lời thay người vợ câu hỏi đau đớn nhất: mình nên chờ đến đâu, tha thứ đến đâu, hy sinh đến đâu là đủ.

Có lẽ, trước khi hỏi vì sao một người vợ không tiếp tục chờ chồng sau song sắt, ta nên tưởng tượng mình đứng ở vị trí ấy một lần. Một tay cầm chiếc nhẫn cưới, một tay dắt con; sau lưng là những năm tháng đã qua, trước mặt là tương lai mờ mịt; trên bàn là giấy vay ngân hàng chưa trả; còn bên kia cánh cửa trại giam là người từng hứa sẽ cùng mình đi hết cuộc đời. Khi đó, câu hỏi không còn là người ấy có bạc nghĩa hay không, mà là: nếu yêu thương đã trở thành gánh nặng, nếu chờ đợi đã làm tổn thương con, nếu ở lại chỉ còn là cách kéo dài nỗi đau, thì buông tay có phải là phản bội, hay là nỗ lực cuối cùng để cứu những phần đời còn có thể cứu?

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn

 

Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Có những cuộc ly hôn không kết thúc bằng cái bắt tay, mà bằng nhiều năm im lặng đến mức hai người từng chung chăn gối trở thành hai địa chỉ pháp lý của nhau. Mọi việc liên quan đến con cái, từ tiền cấp dưỡng, học phí, đưa đón đi học, họp phụ huynh, chữa bệnh, làm hộ chiếu, ký giấy đồng ý cho con xuất cảnh du lịch, đều phải đi qua luật sư, người thân hoặc một người thứ ba nào đó được cả hai miễn cưỡng chấp nhận. Họ không gọi điện, nhắn tin hay ngồi chung trong một căn phòng nếu có thể tránh được; thậm chí có người sau ly hôn còn lặn mất tăm, để lại người kia một mình xoay xở với con cái, những hóa đơn và một nỗi giận không biết gửi vào đâu.

Vì thế, khi nghe chuyện một cặp vợ chồng cũ sau mười mấy năm bỗng liên lạc lại, làm lành, thậm chí tái hôn, công chúng thường bị cuốn vào ý nghĩ lãng mạn rằng tình yêu đích thực rồi sẽ tìm được lối về. Nhưng đời sống thật sự phức tạp hơn nhiều. Có cuộc trở về là một phép lành, có cuộc trở về chỉ là vòng lặp của một vết thương cũ, và cũng có cuộc trở về không nhằm nối lại tình yêu mà chỉ để hai người làm nhau đau thêm.

Gần đây, câu chuyện Tom Cruise được cho là đang hàn gắn với Nicole Kidman sau hơn hai thập kỷ chia tay đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Được biết, hai người được cho là đã bí mật liên lạc, thảo luận về khả năng gặp mặt trực tiếp và “gác lại mọi chuyện” sau 25 năm, trong đó các con chung cũng là một phần quan trọng của cuộc hội ngộ ấy. Tuy nhiên, phải nói rõ rằng đây mới chỉ là câu chuyện làm lành, chưa phải là một cuộc tái hợp tình cảm. Làm lành, tự nó, đã là một bước rất lớn, bởi có những người cũ không cần trở lại làm vợ chồng; họ chỉ cần thôi là vùng cấm trong ký ức của nhau.

Nếu cần một ví dụ đúng nghĩa hơn về chuyện ly hôn, đi qua những mối quan hệ khác rồi quay lại, thì Marie Osmond và Steve Craig là một trường hợp tiêu biểu. Marie Osmond là ca sĩ, diễn viên, người dẫn chương trình nổi tiếng của Mỹ, còn Steve Craig là cựu vận động viên bóng rổ đại học, từng chơi cho Brigham Young University. Họ cưới nhau năm 1982, có một con trai, ly hôn năm 1985, rồi Marie bước vào cuộc hôn nhân kéo dài 21 năm với Brian Blosil trước khi chia tay năm 2007. Đến năm 2011, tức 26 năm sau cuộc ly hôn đầu tiên, Marie và Steve tái hôn qua người con trai chung và trong lễ cưới lần hai, Marie mặc lại chiếc váy cưới của lần đầu.



Chi tiết chiếc váy ấy đẹp đến mức dễ làm người ta mềm lòng, nhưng vẻ đẹp của nó không nằm ở việc người phụ nữ quay lại làm cô dâu năm 22 tuổi, mà ở chỗ cô ấy đã bước vào cuộc hôn nhân thứ hai với cùng một người đàn ông, với một trái tim đã đi qua quá nhiều biến cố. Steve năm 2011 không còn là anh ấy của năm 1985 và Marie của năm 2011 cũng không còn là cô ấy tuổi đôi mươi; hai người từng không thể sống với nhau, nhưng sau gần một đời người, họ có thể gặp lại ở một vị trí khác, ít hiếu thắng hơn, ít ảo tưởng hơn và có lẽ cũng ít cần chứng minh mình đúng hơn.

Trong nghề luật sư ly hôn, tôi đã gặp những câu chuyện không nổi tiếng như thế, nhưng vẫn có sức nặng riêng của đời thường. Một lần, tôi tiếp một đôi vợ chồng doanh nhân thành đạt đã ly hôn được gần 15 năm. Câu chuyện này là trường hợp tổng hợp từ nhiều hồ sơ, đã thay đổi chi tiết nhận dạng, nhưng cảm giác của nó thì rất thật vì họ đã không nói chuyện trực tiếp suốt nhiều năm, mọi khoản cấp dưỡng đều đi qua tài khoản ngân hàng, mọi giấy tờ của con đều đi qua luật sư, mọi cuộc họp phụ huynh được chia ca để không ai phải chạm mặt ai. Người mẹ từng nói với tôi rằng có lẽ ngày duy nhất chị phải gặp lại chồng cũ là ngày con gái lập gia đình, và chị đã chuẩn bị tinh thần cho cuộc gặp ấy như người ta chuẩn bị đi qua một căn phòng cũ đầy bụi.

Rồi ngày đó đến thật. Cô con gái sắp cưới không xin cha mẹ yêu lại nhau, không mong một phép màu kiểu phim ảnh, mà chỉ nhắn: “Con không cần ba mẹ làm hòa vì con, con chỉ xin ba mẹ đừng làm con sợ trong ngày cưới.” Câu ấy khiến cả hai người cùng xuất hiện trong văn phòng tôi để bàn một thỏa thuận rất thực tế rằng ai sẽ đứng ở đâu trong lễ cưới, ai ký giấy tờ nào, ai hỗ trợ khoản nào, và làm sao để họ không biến ngày vui của con thành phiên tòa cuối cùng của cuộc hôn nhân đã chết.

Ban đầu, họ vẫn nói chuyện với nhau qua tôi dù ngồi cách nhau chưa đầy hai mét. Người phụ nữ nhắc chuyện anh từng biến mất khi con vào đại học, người đàn ông nhắc chuyện chị từng cấm anh đến trường con, rồi họ cao giọng như thể 15 năm im lặng chỉ là cách nén thuốc nổ vào căn phòng. Tôi đã nghĩ buổi gặp sẽ đổ vỡ, cho đến khi người đàn ông lấy từ túi giấy ra một xấp ảnh cũ của con gái từ thời mẫu giáo, những tấm ảnh người mẹ tưởng ông đã vứt đi từ lâu. Ông nói rất khẽ: “Tôi tưởng mình chỉ cần gặp lại cô ấy một lần trong ngày cưới của con, nhưng giờ tôi mới hiểu con bé đã phải lớn lên giữa hai người lớn không biết đặt nó lên trên cơn giận của mình.”

Người phụ nữ không tha thứ ngay, bởi không ai có quyền đòi một người tha thứ chỉ vì mình vừa nói một câu muộn màng. Nhưng chị ngồi xuống lại, nhìn những tấm ảnh rất lâu rồi nói: “Tôi không muốn cưới lại, nhưng tôi cũng không muốn ghét nữa.” Với tôi, đó cũng là một dạng tái hợp, không phải tái hợp của vợ chồng, mà là tái hợp của hai con người trưởng thành với trách nhiệm làm cha mẹ, sau nhiều năm để sự tổn thương thay mình điều khiển mọi quyết định.

Chính ở đây, câu hỏi dành cho Nhà nước và cộng đồng về việc có nên khuyến khích những cuộc tái hợp kiểu này hay không cần được trả lời một cách thật thận trọng. Điều cần khuyến khích không phải là “vì con thì quay lại”, càng không phải là ép người đã rời khỏi một cuộc hôn nhân đau đớn phải trở về để giữ hình ảnh gia đình trọn vẹn. Điều nên được khuyến khích là một cách ứng xử văn minh sau ly hôn, trong đó cha mẹ không còn là vợ chồng nhưng vẫn có thể cùng chịu trách nhiệm đối với con chung; còn việc tái hôn chỉ nên được tôn trọng khi tự nguyện, an toàn và thật sự có lợi cho những người liên quan.

Pháp luật Việt Nam đặt nền tảng hôn nhân trên sự tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; nếu vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn lại, chứ việc sống chung hay tổ chức đám cưới không tự động khôi phục quan hệ hôn nhân.

Từ góc nhìn cộng đồng, điều nguy hiểm nhất là lãng mạn hóa mọi sự quay về, bởi không phải người cũ nào cũng xứng đáng được mở cửa lại. Những quan hệ từng có bạo lực, kiểm soát, thao túng, ngoại tình lặp lại, nghiện ngập không được điều trị hoặc xúc phạm kéo dài không trở nên lành mạnh chỉ vì hai người thấy cô đơn sau nhiều năm. Nghiên cứu về các mối quan hệ “on-again, off-again” cũng cho thấy việc chia tay rồi quay lại nhiều lần có thể liên quan đến mức độ đau khổ tâm lý cao hơn, giao tiếp kém hơn và cam kết thấp hơn, dù không phải mọi lần quay lại đều nhất thiết dẫn đến kết cục xấu.

Vì vậy, với những cặp đôi đang nghĩ đến chuyện nối lại sau nhiều năm, lời khuyên đầu tiên không phải là hãy yêu lại ngay, mà là hãy thử cùng giải quyết một việc nhỏ của con mà không làm tổn thương nhau. Nếu nhiều năm qua mọi thứ phải đi qua luật sư hoặc người thứ ba, việc duy trì một kênh liên lạc có kiểm soát như email, lịch chung hoặc một thỏa thuận bằng văn bản không phải là lạnh lùng, mà có thể là cách để cả hai được bảo vệ khỏi thói quen cũ. Khi sự an toàn cảm xúc chưa đủ, trung gian không phải là thất bại, mà là một chiếc lan can.

Lời khuyên tiếp theo là cần gọi đúng tên nguyên nhân của việc ly hôn. Đừng chỉ nói “hồi đó còn trẻ”, vì tuổi trẻ không tự làm hôn nhân tan vỡ; cái làm hôn nhân tan vỡ thường là sự im lặng dùng để trừng phạt, sự kiểm soát nhân danh yêu thương, sự hơn thua trong tiền bạc, sự phản bội, sự khinh thường hoặc việc không ai chịu xin lỗi trước khi người kia kiệt sức. Nếu nguyên nhân cũ chưa được nhìn thẳng, tái hợp rất dễ bắt đầu bằng vài tháng dịu dàng rồi kết thúc đúng trong căn phòng cũ, chỉ khác là lần này ai cũng mệt hơn.

Lời khuyên tiếp theo nữa là đừng biến con cái thành người mai mối, người đưa tin hay con tin cảm xúc của cha mẹ. Một đứa trẻ có thể vui khi thấy cha mẹ nói chuyện lại, nhưng niềm vui ấy thường rất mong manh, bởi nó đi kèm nỗi sợ bị thất vọng thêm một lần nữa. Trước khi công khai chuyện tái hợp, cha mẹ cần chứng minh bằng hành vi rằng họ có thể tôn trọng nhau, thống nhất được những việc căn bản và không bắt con làm nhân chứng cho một cuộc thử nghiệm tình cảm chưa đủ chín.

Lời khuyên cuối cùng là càng xúc động, càng phải minh bạch về pháp lý và tài chính. Những người từng ly hôn nên nói rõ tài sản riêng, tài sản chung dự kiến, nghĩa vụ cấp dưỡng còn tồn tại, quyền lợi của con chung và con riêng, khoản nợ, chỗ ở, chi phí học hành, quyền thừa kế và cả cách xử lý nếu lần quay lại này không thành. Tình yêu lần hai có thể dịu hơn lần một, nhưng chính vì đã từng đổ vỡ, nó càng cần những ranh giới rõ ràng để không chết thêm lần nữa vì những điều từng bị né tránh.

Sau cùng, không phải cuộc trở về nào cũng cần kết thúc bằng một đám cưới lần hai. Có người tái hôn như Marie Osmond và Steve Craig, sau khi đi gần hết một vòng đời mới hiểu điều gì từng quan trọng và điều gì hóa ra không đáng để hơn thua. Có người chỉ làm lành như một cách đặt xuống quá khứ, để con cái không còn phải sống giữa hai bờ im lặng. Cũng có người không bao giờ nên quay lại, vì rời đi là quyết định đúng đắn nhất để bảo vệ bản thân.

Nhưng nếu một ngày nào đó, sau nhiều năm chỉ nói chuyện qua luật sư, qua người thân, qua những văn bản lạnh lẽo, hai người cũ có thể ngồi cùng nhau trong lễ cưới của con, ký một giấy tờ cần thiết mà không gây khó dễ, hoặc nhìn nhau đủ bình tĩnh để hiểu rằng đứa trẻ năm xưa không đáng phải gánh thêm cuộc chiến của cha mẹ, thì có lẽ đó cũng là một dạng đoàn tụ. Không ồn ào, không nhất thiết lãng mạn, không cần gọi là yêu lại. Chỉ là hai người từng làm nhau đau cuối cùng đã học được cách không làm đau thêm những người vô tội, và đôi khi, trong đời sống gia đình, như thế đã là một khởi đầu đẹp.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Sức ép sở hữu trí tuệ từ Mỹ: Việt Nam biến áp lực thành cuộc làm sạch thị trường

 

Sức ép sở hữu trí tuệ từ Mỹ: Việt Nam biến áp lực thành cuộc làm sạch thị trường

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Việc Mỹ đưa Việt Nam vào nhóm bị đặc biệt quan ngại về quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) trong Báo cáo Đặc biệt 301 năm 2026 chắc chắn là một tín hiệu không vui. Ngày 30/4/2026, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố báo cáo thường niên về mức độ bảo hộ và thực thi QSHTT của các đối tác thương mại, trong đó xác định Việt Nam là Priority Foreign Country (Quốc gia Nước ngoài Ưu tiên). USTR cũng cho biết sẽ quyết định trong vòng 30 ngày tới liệu có mở điều tra theo Mục 301 của Luật Thương mại 1974 hay không.

Nhìn bề ngoài, đây chỉ là sức ép thương mại. Nhưng nhìn sâu hơn, đây là một phép thử về việc Việt Nam sẽ chỉ phản ứng để “làm vừa lòng” đối tác, hay sẽ biến sức ép ấy thành cơ hội để làm sạch thị trường, bảo vệ doanh nghiệp chân chính, bảo vệ người sáng tạo và nâng cao uy tín quốc gia?

Câu trả lời đang dần hiện ra đó là Việt Nam không chỉ nói mà còn đang làm.

Điều cần nói là Việt Nam không đợi đến khi Mỹ lên tiếng mới bắt đầu hành động. Từ ngày 30/1/2026, Thủ tướng đã ký Chỉ thị 02/CT-TTg về việc tăng cường thực thi QSHTT. Chỉ thị nhận định rằng tình trạng xâm phạm QSHTT vẫn phức tạp, tinh vi trong cả thương mại truyền thống lẫn thương mại điện tử, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, cũng như uy tín quốc gia.



Đó là điểm mấu chốt. Việt Nam không phủ nhận khoảng trống và còn chỉ ra những khoảng trống cần lấp đầy. Khoảng trống ấy nằm ở hàng giả đội lốt hàng thật, nhãn hiệu bị làm nhái, phần mềm bị sử dụng lậu tại doanh nghiệp, tác phẩm âm nhạc, phim ảnh, chương trình biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình bị khai thác trái phép trên môi trường số, và nằm trong những mô hình kinh doanh kiếm tiền từ tài sản trí tuệ của người khác nhưng lại xem bản quyền là chuyện có thể “tính sau”.

Vì vậy, nếu gọi những động thái gần đây của Việt Nam là “lấy lòng đối tác thương mại” thì sẽ quá hẹp. Chính xác hơn, đây là cuộc chỉnh đốn cần thiết để nền kinh tế Việt Nam bước sang một nấc thang mới, đó là luật chơi minh bạch, tài sản trí tuệ được bảo vệ, sáng tạo được trả công xứng đáng và doanh nghiệp làm ăn tử tế không bị cạnh tranh bởi hàng giả, hàng nhái, nội dung lậu.

Sau Chỉ thị 02, Chính phủ tiếp tục đẩy nhịp hành động lên cao bằng Công điện 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026, yêu cầu các lực lượng chức năng ra quân trên cả nước từ ngày 7/5 đến 30/5 để ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm QSHTT. Tinh thần được nêu rõ rằng phải xử lý nghiêm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Đặc biệt, Công điện 38 yêu cầu Bộ Công an tập trung xác minh, điều tra, khởi tố một số vụ án xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý; đồng thời triệt phá các website và tổ chức điều hành website vi phạm bản quyền trực tuyến có lượng truy cập lớn, nhất là các trang phim, âm nhạc, trò chơi điện tử và chương trình truyền hình lậu. Công điện cũng yêu cầu kiểm tra bản quyền chương trình máy tính tại doanh nghiệp, xử lý vi phạm trên môi trường mạng, siết chặt việc xử lý hàng giả mạo nhãn hiệu và tăng tối thiểu 20% số vụ xử lý so với tháng 5/2025 ở một số mảng trọng điểm.

Và rồi cao trào xuất hiện. Ngày 16/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố 5 vụ án hình sự về tội “xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Các vụ án liên quan đến Công ty BH Media, Lululola Entertainment, nhóm 1900 Group, Công ty Mây Sài Gòn, Trung tâm Giọng ca để đời và các chủ sở hữu của các công ty này. Vậy, đây không còn là lời hứa nữa mà là hồ sơ vụ án. Đây không còn là tuyên truyền chống vi phạm bản quyền mà là việc thực thi pháp luật bằng biện pháp hình sự.

Thông điệp gửi tới thị trường vì thế rất rõ rằng thời của “xài tạm”, “dùng trước xin phép sau”, “kiếm tiền rồi thương lượng sau” đang dần khép lại.

Vụ việc ở trên có ý nghĩa vượt ra ngoài một vụ án cụ thể. Nó chạm đúng vào những vùng nhạy cảm của kinh tế số Việt Nam, là bản quyền âm nhạc, quyền liên quan, bản ghi, quyền biểu diễn, nền tảng số, doanh thu từ nội dung và trách nhiệm của các đơn vị khai thác thương mại. Đây là nơi lâu nay dễ phát sinh tranh chấp, vì tài sản không nằm trên kệ hàng, container hay kho bãi, mà nằm trong bài hát, bản thu, video, dữ liệu, nền tảng và lượt xem.

Một nền kinh tế muốn phát triển bằng sáng tạo thì không thể xem nhẹ tài sản vô hình. Một quốc gia muốn thu hút đầu tư công nghệ, công nghiệp văn hóa, truyền thông số, phần mềm, giải trí, giáo dục trực tuyến thì không thể để thị trường bản quyền bị xem là vùng xám. Và một doanh nghiệp Việt Nam muốn bước ra thế giới cũng phải học cách tôn trọng QSHTT của người khác, giống như mong muốn thế giới tôn trọng thương hiệu, sáng chế, thiết kế, nội dung và sản phẩm của chính mình.

Vì vậy, Việt Nam có cơ sở để nói với Mỹ rằng chúng tôi đang hành động không phải vì bị ép, mà vì đây là lợi ích của chính Việt Nam.

Thực thi QSHTT không phải là món quà dành cho Washington, mà là hàng rào bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam khỏi hàng giả. Nó là tấm khiên bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam khỏi sự cạnh tranh bất chính. Nó là công cụ bảo vệ các nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất, nhà phát triển phần mềm, nhà thiết kế, nhà sáng chế, người làm nội dung và các ngành công nghiệp sáng tạo trong nước. Nó cũng là cách Việt Nam giữ uy tín trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi một vi phạm nhỏ về nhãn hiệu, bản quyền hay phần mềm cũng có thể làm tổn hại đến niềm tin của các đối tác quốc tế.

Quan trọng hơn, Việt Nam đang cho thấy cách tiếp cận ngày càng bài bản. Chỉ thị 02 yêu cầu tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đẩy nhanh điều tra, truy tố, xét xử và tăng cường xử lý hình sự đối với các vụ xâm phạm QSHTT. Chỉ thị cũng đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi pháp luật nhằm mở rộng phạm vi xử lý, tăng tính răn đe đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp.

Công điện 38 tiếp tục yêu cầu sau ngày 30/5/2026, các bộ, ngành, địa phương phải rà soát, đánh giá và tiếp tục tăng cường thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm công tác đấu tranh chống xâm phạm QSHTT được triển khai thường xuyên, liên tục, có hệ thống, trọng tâm, trọng điểm.

Tất nhiên, không nên tô hồng vì chặng đường phía trước còn dài. Website lậu có thể biến mất khỏi một tên miền rồi mọc lại ở tên miền khác. Hàng giả có thể đi từ chợ truyền thống lên sàn thương mại điện tử, từ cửa hàng nhỏ lên livestream, từ biên giới vào kho hàng, rồi từ kho hàng đến tay người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn xem bản quyền phần mềm, hình ảnh, âm nhạc và thiết kế là chi phí có thể bỏ qua. Một bộ phận người tiêu dùng vẫn quen với hàng nhái, phim lậu, nhạc lậu, phần mềm lậu vì “rẻ hơn” hoặc “tiện hơn”.

Nhưng chính vì thế, cao điểm lần này không thể chỉ là việc của các cơ quan chức năng. Chính phủ có thể ban hành chỉ thị, Bộ Công an có thể khởi tố, Quản lý thị trường có thể kiểm tra, Hải quan có thể siết chặt biên giới. Nhưng để một xã hội thật sự tôn trọng QSHTT, cần nhiều hơn là mệnh lệnh hành chính. Cần sự thay đổi từ thị trường, từ hiệp hội, từ doanh nghiệp và từ mỗi người dân.

Các hiệp hội ngành hàng cần chủ động lập danh sách vi phạm, chia sẻ dữ liệu với cơ quan chức năng, hỗ trợ hội viên đăng ký và bảo vệ QSHTT. Doanh nghiệp cần rà soát lại phần mềm, nhãn hiệu, hợp đồng bản quyền, nguồn gốc nội dung, hình ảnh, âm nhạc và thiết kế đang sử dụng. Các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội, đơn vị trung gian thanh toán và quảng cáo cần phối hợp nhanh hơn để gỡ bỏ, chặn doanh thu và truy vết các mô hình kinh doanh dựa trên hàng giả, hàng nhái và nội dung lậu.

Người sáng tạo cũng không thể đứng ngoài. Nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất, nhà văn, nhà báo, nhà thiết kế, lập trình viên, người làm nội dung cần đăng ký, lưu trữ bằng chứng, sử dụng hợp đồng rõ ràng và lên tiếng khi quyền lợi bị xâm phạm. Còn người tiêu dùng, mỗi lần chúng ta chọn mua hàng thật thay vì hàng giả, xem nội dung hợp pháp thay vì nội dung lậu, dùng phần mềm có bản quyền thay vì phần mềm crack, chúng ta đang góp phần xây dựng một nền kinh tế tử tế hơn.

Sức ép từ Mỹ có thể là hồi chuông từ bên ngoài. Nhưng cuộc cải cách này phải là lựa chọn nội tại của Việt Nam.

Bảo vệ QSHTT không chỉ để tránh bị điều tra thương mại mà còn để bảo vệ danh dự của hàng Việt, giá trị của trí tuệ Việt, quyền lợi của người sáng tạo Việt và tương lai của một nền kinh tế muốn đi lên bằng chất lượng, công nghệ và sự sáng tạo.

Việt Nam đã bắt đầu bước vào cuộc làm sạch ấy. Bây giờ, điều cần nhất là không để đây chỉ là một đợt cao điểm ngắn ngày mà hãy biến nó thành một chuẩn mực lâu dài. Hãy để Chính phủ hành động, doanh nghiệp tuân thủ, hiệp hội đồng hành, nền tảng công nghệ phối hợp và người dân thay đổi thói quen tiêu dùng - không phải để “lấy lòng” ai, mà để Việt Nam trở thành một quốc gia biết tôn trọng sáng tạo, bảo vệ tài sản trí tuệ và cạnh tranh bằng giá trị thật.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn

 

Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn

 (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là thời khắc nhạy cảm nhất trong quan hệ lao động. Đó không chỉ là điểm kết thúc của một thỏa thuận pháp lý, mà còn là thời điểm sinh kế, cảm xúc, danh dự và niềm tin con người va chạm trực diện với quyền quản trị và logic kinh doanh. Trong lý thuyết pháp luật, việc chấm dứt HĐLĐ được thiết kế như một cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt của thị trường lao động, giúp doanh nghiệp thích ứng với biến động kinh tế và cho phép người lao động (NLĐ) tự do chuyển việc làm. Nhưng trong thực tiễn, mỗi quyết định chấm dứt lại thường mang theo những dư chấn xã hội sâu sắc, đặc biệt khi nó diễn ra trong bối cảnh mất việc làm, tái cấu trúc hoặc tranh chấp kéo dài. Chính tại đây, ranh giới giữa việc “đúng luật” và việc “đúng tình” trở nên mong manh.

Pháp luật lao động Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Lao động 2019, đã xây dựng một khung pháp lý tương đối đầy đủ để điều chỉnh việc chấm dứt HĐLĐ. Các trường hợp chấm dứt hợp pháp, đơn phương chấm dứt, chấm dứt do thỏa thuận, do hết hạn HĐLĐ, do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế đều được quy định chi tiết, kèm theo hệ quả pháp lý rõ ràng. Về mặt lý thuyết, đây là một hệ thống cân bằng giữa quyền quản lý của doanh nghiệp và sự bảo vệ dành cho NLĐ – bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, chính sự chi tiết và chặt chẽ này lại khiến việc chấm dứt trở thành “bãi mìn pháp lý” nếu các bên chỉ tập trung vào việc tuân thủ câu chữ của luật mà bỏ qua yếu tố con người đằng sau mỗi điều khoản.



Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy, rất nhiều vụ việc không phát sinh từ việc doanh nghiệp thiếu căn cứ pháp lý, mà từ cách thức họ thực hiện quyền chấm dứt HĐLĐ. Có những trường hợp doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chấm dứt theo quy định của pháp luật, nhưng lại lựa chọn cách thông báo đột ngột, lạnh lùng hoặc thiếu minh bạch. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất tại một khu công nghiệp phía Nam từng quyết định cắt giảm 10% lao động do đơn hàng sụt giảm nghiêm trọng. Về pháp lý, doanh nghiệp làm gần như “sách giáo khoa”: có báo cáo khó khăn tài chính, có phương án sử dụng lao động, có tham vấn công đoàn cơ sở, có thông báo chấm dứt đúng thời hạn và chi trả đầy đủ trợ cấp mất việc cho NLĐ. Tuy nhiên, những NLĐ bị chấm dứt chỉ nhận được một email của Giám đốc nhân sự gửi đồng loạt vào cuối ngày thứ Sáu, kèm theo lịch bàn giao công việc vào sáng thứ Hai tuần sau. Không có trao đổi trực tiếp, không có lời giải thích riêng, cũng không có sự ghi nhận đối với những đóng góp. Hơn nửa số NLĐ sau đó nộp đơn khởi kiện, không hẳn vì họ tin rằng doanh nghiệp sai luật, mà vì cảm giác bị đối xử như một chi phí phải cắt bỏ hơn là một con người đã từng cống hiến.

Ngược lại, cũng trong bối cảnh tái cấu trúc, một doanh nghiệp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài đã lựa chọn một cách tiếp cận khác. Khi buộc phải chấm dứt hoạt động của một bộ phận kinh doanh, ban giám đốc tổ chức các buổi trao đổi riêng với từng nhân sự bị ảnh hưởng, giải thích rõ lý do kinh doanh, lắng nghe hoàn cảnh cá nhân và linh hoạt điều chỉnh thời điểm chấm dứt đối với những người đang gặp khó khăn đặc biệt. Về pháp lý, doanh nghiệp chỉ thực hiện nghĩa vụ tối thiểu, nhưng về mặt nhân văn, họ làm nhiều hơn so với kỳ vọng. Toàn bộ quá trình chấm dứt diễn ra trong trật tự, không phát sinh tranh chấp, và điều đáng chú ý là nhiều NLĐ sau đó vẫn sẵn sàng quay lại làm việc khi doanh nghiệp được phép hoạt động trở lại. Trường hợp này cho thấy nhân văn không làm suy yếu quyền quản trị, mà ngược lại, củng cố uy tín và năng lực quản trị trong dài hạn.

Sự căng thẳng giữa pháp lý và nhân văn còn thể hiện rõ trong các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ do vi phạm kỷ luật lao động. Không ít doanh nghiệp tin rằng chỉ cần nội quy lao động được đăng ký hợp lệ và hành vi vi phạm là “rõ ràng” và được ghi trong nội quy thì việc chấm dứt sẽ an toàn về mặt pháp lý. Nhưng trên thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh không phải vì hành vi vi phạm, mà vì cách doanh nghiệp ứng xử trước và sau khi chấm dứt hợp đồng. Một NLĐ bị sa thải vì nhiều lần đi trễ, dù nội quy lao động đã quy định rõ ràng. Tuy nhiên, trong suốt quá trình làm việc, NLĐ này chưa từng được nhắc nhở chính thức bằng văn bản, chưa từng được trao đổi về nguyên nhân cá nhân dẫn đến việc đi trễ, và cũng chưa từng được tạo cơ hội để khắc phục. Quyết định sa thải được ban hành đột ngột đã dẫn đến phản ứng gay gắt, không chỉ bằng đơn khởi kiện của NLĐ mà còn bằng việc chia sẻ câu chuyện lên mạng xã hội. Dù doanh nghiệp sau đó chứng minh được mình đã làm đúng quy trình, kỷ luật, tổn thất về hình ảnh và tinh thần nội bộ đã xảy ra và không thể đảo ngược.

Ở chiều ngược lại, cũng là vi phạm kỷ luật, một doanh nghiệp khác đã lựa chọn cách xử lý mềm hơn. Trước khi quyết định chấm dứt, họ tổ chức nhiều cuộc trao đổi, lập biên bản nhắc nhở, thậm chí hỗ trợ NLĐ điều chỉnh giờ làm việc để phù hợp với hoàn cảnh gia đình trong một giai đoạn nhất định. Khi buộc phải chấm dứt, NLĐ chấp nhận quyết định trong tâm thế rằng mình đã được trao cơ hội. Trong trường hợp này, pháp lý và nhân văn không loại trừ nhau, mà bổ trợ cho nhau để tạo ra kết cục ít tổn thương nhất.

Một khía cạnh khác thường bị bỏ quên là tác động của việc chấm dứt HĐLĐ đối với đội ngũ nhân sự còn lại. Cách doanh nghiệp chia tay NLĐ, đặc biệt là NLĐ lâu năm, chính là thông điệp mạnh mẽ nhất gửi tới những người còn lại. Có doanh nghiệp từng đối mặt với làn sóng bất mãn nội bộ chỉ vì cách họ chấm dứt hợp đồng với một quản lý đã gắn bó 15 năm. Người này được thông báo chấm dứt chỉ chưa đầy 10 phút, với lập luận rằng “không còn phù hợp với định hướng mới”. Quyền tái cấu trúc của doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận, nhưng cách chia tay lạnh lùng đó đã tạo ra nỗi sợ hãi và sự hoài nghi trong đội ngũ còn lại. Trong trường hợp này, cái giá của sự thiếu nhân văn không nằm ở một vụ kiện, mà nằm ở sự sụp đổ niềm tin nội bộ và sự suy giảm gắn kết trong tổ chức.

Trong bối cảnh đó, thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ ngày càng được nhìn nhận như một giải pháp dung hòa giữa pháp lý và tính nhân văn. Khi hai bên ngồi lại với nhau, trao đổi minh bạch về lý do, quyền lợi và kỳ vọng, khả năng đạt được một kết cục công bằng sẽ cao hơn nhiều so với việc áp đặt quyết định một cách đơn phương. Tuy nhiên, để thỏa thuận thực sự mang tính nhân văn, nó không thể được xây dựng trên sự ép buộc, đe dọa hay lợi dụng sự thiếu hiểu biết của NLĐ, mà phải dựa trên nguyên tắc thiện chí và sự cân bằng lợi ích. Một thỏa thuận đạt được trong tâm thế tôn trọng lẫn nhau thường giúp các bên khép lại quan hệ lao động một cách trật tự, giảm thiểu xung đột và bảo toàn danh tiếng cho cả hai bên.

Từ phía NLĐ, việc hiểu đúng quyền và nghĩa vụ của mình cũng là một phần trong cách tiếp cận nhân văn. Không phải mọi trường hợp chấm dứt HĐLĐ đều là sai trái hay bất công. Có những thời điểm sự chia tay là cần thiết cho cả hai bên. Thực tiễn cho thấy không ít NLĐ lựa chọn khởi kiện ngay khi bị chấm dứt HĐLĐ với tâm lý “cứ kiện là có tiền”, nhưng sau đó phải đối mặt với áp lực tâm lý kéo dài, chi phí thời gian và nguy cơ bị nhìn nhận như một nhân sự khó hợp tác trên thị trường lao động. Trong khi đó, những người chọn đối thoại, thương lượng và thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ một cách tỉnh táo thường đạt được kết quả thực tế và bền vững hơn.

Ở bình diện rộng hơn, cách thức chấm dứt HĐLĐ phản ánh mức độ trưởng thành của thị trường lao động và của hệ thống tư pháp. Một môi trường mà tranh chấp chấm dứt HĐLĐ thường xuyên leo thang thành các vụ kiện tụng kéo dài cho thấy sự thiếu hụt cơ chế đối thoại và hòa giải hiệu quả. Khi pháp luật được áp dụng máy móc, không tính đến bối cảnh kinh tế - xã hội và yếu tố con người, công lý có thể đúng về hình thức nhưng lại thiếu sức thuyết phục về bản chất. Ngược lại, nếu nhân văn được đặt lên trên pháp lý một cách cực đoan, kỷ cương thị trường sẽ bị xói mòn và môi trường kinh doanh sẽ mất đi tính dự đoán.

Do đó, thách thức lớn nhất không phải là lựa chọn giữa pháp lý và nhân văn, mà là tìm ra điểm cân bằng hợp lý giữa hai yếu tố này. Pháp lý tạo ra khung an toàn và ranh giới rõ ràng, còn nhân văn lấp đầy những khoảng trống mà pháp luật không bao quát hết. Một quyết định chấm dứt HĐLĐ lý tưởng là quyết định vừa đứng vững trước tòa, vừa đứng vững trước lương tâm của những người liên quan. Đó là quyết định mà khi nhìn lại, cả doanh nghiệp và NLĐ đều có thể nói rằng họ đã không làm tổn thương nhau nhiều hơn mức cần thiết.

Trong một thế giới lao động đang thay đổi nhanh chóng bởi công nghệ, toàn cầu hóa và những cú sốc kinh tế khó lường, việc chấm dứt HĐLĐ có lẽ sẽ trở nên phổ biến hơn. Chính vì vậy, cách đối diện và xử lý những cuộc chia tay này sẽ định hình chất lượng quan hệ lao động trong tương lai. Pháp luật có thể tiếp tục được hoàn thiện, nhưng nhân văn thì không thể được ban hành bằng nghị định hay thông tư. Nó nằm ở lựa chọn của từng doanh nghiệp, từng nhà quản lý và từng NLĐ trong những thời khắc khó khăn nhất. Và có lẽ, giá trị lớn nhất của pháp luật lao động không nằm ở việc nó cho phép chấm dứt HĐLĐ như thế nào, mà ở việc nó nhắc nhở các bên rằng đằng sau mỗi hợp đồng là một con người, và mọi cuộc chia tay, dù hợp pháp đến đâu, cũng cần được thực hiện với sự tử tế.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Quy định chạy 4 giờ phải nghỉ - Luật nói dừng lại nhưng mưu sinh lại bảo chạy tiếp đi

 

Quy định chạy 4 giờ phải nghỉ - Luật nói dừng lại nhưng mưu sinh lại bảo chạy tiếp đi

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Tuần rồi tôi có việc ở Đà Lạt nên thuê một chiếc xe có tài xế chở một chiều lên đó, còn chiều về tôi dự định bay về Sài Gòn cho nhanh. Tôi thuê một chuyến bay chiều vì lịch của tôi tương đối chủ động; tôi không cần phải kịp theo nghĩa chạy đua với thời gian, và tôi cũng không muốn biến chuyến đi công việc thành một cuộc thi sức bền trên đường. Vậy mà ngay trên hành trình ấy, tôi lại bị kéo vào một bài toán rất thật của đời sống giao thông hiện nay, bài toán nằm giữa luật lệ và mưu sinh.

Xe chạy được một đoạn dài thì trong cabin bắt đầu vang lên tiếng bíp bíp bíp đều đều. Âm thanh không lớn nhưng dai, kiểu nhắc khiến người ta bực mình dù vẫn đang ngồi yên. Tôi khó chịu nên hỏi xem có chuyện gì. Bác tài nhìn tôi qua gương rồi nói thẳng rằng anh đã chạy liên tục trong 4 giờ nên theo quy định phải dừng lại nghỉ 15 phút. Anh nói câu đó bằng giọng của người đã quá quen với việc bị nhắc giờ, quen đến mức không còn xem đó là chuyện đáng bàn, mà chỉ là một “chốt chặn” cần phải xử lý. Nhưng ngay sau đó, anh nói thêm một câu khiến tôi giật mình. Anh bảo anh còn việc phải quay về Sài Gòn ngay trong ngày nên anh sẽ có chiêu để chạy tiếp.



Nói xong, anh thò tay vào bóp, móc ra một tấm thẻ nhỏ, cạy nhẹ ở khu vực gần táp lô. Tiếng bíp bíp bíp tắt phụt, rồi xe lại lăn bánh như không có chuyện gì. Cái “không có chuyện gì” ấy, với tôi, chính là có chuyện. Bởi theo luật, quy định về thời gian lái xe được thiết kế để bảo vệ an toàn và tiếng bíp là để nhắc tài xế. Tuy nhiên, ngoài đường, nó có lúc bị biến thành một âm thanh gây khó chịu. Và khi âm thanh ấy có thể bị làm im lặng chỉ bằng một động tác thuần thục, tôi hiểu rằng câu chuyện này không còn là chuyện riêng của bác tài nữa.

Lúc đó tôi nhận ra mình đang ngồi giữa một mâu thuẫn rất thật. Một bên là quy định an toàn, bên còn lại là nhịp mưu sinh và chữ kịp. Không phải kịp giờ của tôi vì tôi không phải là người bị thúc. Cái kịp của bác tài là kịp cuộc đời của anh ta, kịp chuyến về, kịp một việc riêng, hoặc kịp một lịch chạy khác mà nếu trễ thì anh có thể bị phạt, bị mất chuyến, bị mất tiền, bị mất lòng chủ xe, hoặc đơn giản là mất một cơ hội kiếm thêm trong ngày. Tôi không còn là người bị thúc mà lại trở thành người nghe một lời đề nghị, mềm nhưng rõ: “Anh có cho tôi đi tiếp luôn không?”, dù câu hỏi ấy không nói ra thành lời theo kiểu xin phép. Trong khoảnh khắc đó, tôi thấy mình cũng bị kéo vào hệ thống áp lực ấy, dù tôi không tạo ra nó, và tôi tự hỏi bao nhiêu hành khách khác đã từng chọn “chạy tiếp” chỉ vì ngại làm khó bác tài, hoặc vì sợ bị trễ, hoặc vì cảm giác quen thuộc “thôi kệ, chắc không sao”.

Về mặt pháp lý, câu chuyện bốn giờ liên tục không phải là một lời khuyên đạo đức. Điều 64 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định rõ đối với người lái xe ô tô kinh doanh vận tải và vận tải nội bộ, không được lái xe liên tục quá bốn giờ, đồng thời còn có giới hạn theo ngày và theo tuần trong giai đoạn đầu mới áp dụng, và yêu cầu bảo đảm các quy định có liên quan của Bộ luật Lao động. Khi một quy định đã được luật hóa, xã hội có quyền kỳ vọng rằng nó được thực hiện đúng tinh thần, chứ không chỉ “đi qua” bằng hình thức.

Cũng cần nói thêm rằng hệ thống chế tài trong giai đoạn này không còn đơn giản là phạt tiền rồi thôi. Nghị định 168/2024/NĐ-CP được ban hành nhằm xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời thiết kế cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe. Khi đã có điểm để trừ, tâm lý sợ bị ghi nhận vi phạm sẽ tăng lên, và điều đó có hai mặt. Một mặt, nó có thể làm kỷ cương tốt hơn. Mặt khác, nó cũng có thể khiến người ta tập trung vào việc né tránh vết thương đã được ghi nhận, trước khi tập trung vào việc giảm rủi ro thực sự.

Từ ngày 1/7/2026, bức tranh pháp lý còn có một điểm mới dễ khiến người ta hiểu sai. Khoản 15 Điều 7 Luật số 118/2025/QH15  được điều chỉnh theo hướng bãi bỏ giới hạn “10 giờ một ngày, 48 giờ một tuần” trong quy định chuyên ngành, chuyển việc giới hạn thời gian làm việc sang khung thời gian làm việc của Bộ luật Lao động, nhưng vẫn giữ nguyên chốt an toàn “không lái liên tục quá 4 giờ”. Luật cũng ghi nhận ngoại lệ trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nghe đến chữ “bãi bỏ 10 giờ”, nhiều người có thể thở phào và tưởng rằng quy định đã được nới lỏng. Nhưng nếu hiểu đúng, luật chỉ chuyển giới hạn theo ngày và tuần sang cơ chế lao động, còn chốt bốn giờ liên tục vẫn giữ vì đây là chốt gắn trực tiếp với mệt mỏi và rủi ro tai nạn.

Chính câu chuyện ngoại lệ “bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” cũng cần được nhìn kỹ từ góc độ thiết kế và thực thi. Trên đường có kẹt xe bất thường, có tai nạn, có thiên tai, có điều tiết giao thông, có những tình huống mà tài xế không thể chủ động lựa chọn điểm dừng như trong sách vở. Ngoại lệ là cần thiết để tránh xử oan người tuân thủ. Nhưng nếu tiêu chí và chứng cứ cho ngoại lệ không được hướng dẫn chặt chẽ, vùng xám sẽ rộng ra, và vùng xám thường là nơi thủ thuật sống khỏe nhất, nhất là trong bối cảnh cơ chế trừ điểm khiến ai cũng sợ “bị ghi nhận”. Ngoại lệ tốt là ngoại lệ bảo vệ người ngay thẳng. Ngoại lệ tệ là ngoại lệ trở thành chiếc ô che cho thói quen chạy sát mép.

Trở lại câu chuyện trên xe, đến đây thường có người nói rằng bốn giờ là con số máy móc; mệt hay không mệt tùy người: có người chạy lâu vẫn tỉnh táo, có người mới chạy đã uể oải. Tôi hiểu điều đó, nhưng luật không thể đo lường từng nhịp tim, từng cơn buồn ngủ và từng mức phản xạ của mỗi cá nhân. Luật buộc phải chọn một ngưỡng phòng ngừa cho số đông. Trong giao thông, phòng ngừa luôn rẻ hơn trả giá, vì trả giá ở đây không chỉ là tiền, mà còn là mạng người, là thương tật, là những gia đình bị cắt đôi.

Cũng có người nói rằng không phải lúc nào cũng có điểm dừng nghỉ an toàn, dừng bừa còn nguy hiểm hơn, nhất là ở những tuyến đường dài hoặc những đoạn đèo dốc. Tôi không phủ nhận. Và chính thực tế ấy cho thấy vấn đề không nằm ở câu chữ của luật mà ở điều kiện tuân thủ. Khi không có điều kiện, người ta sẽ tìm cách đi qua luật bằng hình thức nào? Thậm chí có khi luật được đặt ra để bảo vệ, nhưng đời sống lại đẩy người lái vào lựa chọn xấu, hoặc dừng ở chỗ không an toàn, hoặc chạy tiếp và vi phạm.

Tôi cũng biết không phải tiếng bíp bíp bíp nào cũng liên quan đến giới hạn 4 giờ. Nhiều xe có thiết bị yêu cầu tài xế xác nhận danh tính bằng thẻ hoặc thao tác đăng nhập. Nếu chưa đăng nhập thì thiết bị kêu nhắc, và quẹt thẻ có thể là thao tác hợp lệ. Vì vậy, chỉ nhìn thấy một cú quẹt thẻ thì chưa thể kết luận ngay rằng đó là hành vi lách luật. Nhưng trong tình huống của tôi, chính câu nói của bác tài rằng đã chạy đủ 4 giờ theo quy định và sẽ có cách chạy tiếp mới là điều khiến vấn đề chuyển hướng. Nó không còn là chuyện thẻ là thẻ gì nữa. Nó là chuyện tại sao một quy định an toàn lại được đặt lên bàn như một thứ có thể thương lượng, và tại sao cách chạy tiếp lại được nói ra một cách bình thản như một kỹ năng sống còn.

Trong thực tế, các cách lách quy định về thời gian lái thường không diễn ra theo kiểu phá hoại thiết bị thô bạo như nhiều người tưởng. Thay vào đó, nó thường diễn ra theo hướng khiến dữ liệu trông hợp lệ, còn bản chất an toàn thì bị đẩy xuống hàng sau. Người ta có thể tạo ra một lần dừng đủ để cắt chuỗi liên tục trên hệ thống, nhưng đó không phải là nghỉ đúng nghĩa. Nghỉ đúng nghĩa không chỉ là một dấu “đã dừng”, mà còn là một khoảng thời gian đủ để não và mắt hồi phục, đủ để nhịp thở chậm lại, đủ để phản xạ trở về trạng thái bình thường. Dữ liệu có thể nói rằng đã nghỉ, nhưng cơ thể vẫn đang gồng. Xe có thể “đúng” trên màn hình, nhưng con người vẫn “sai” ở vô lăng.

Cũng có những câu chuyện nằm ở việc định danh người lái. Hệ thống biết ai đang lái xe thông qua định danh và luồng ghi nhận. Nhưng đời sống vận tải lại phụ thuộc vào tổ chức ca kíp, kỷ luật nội bộ, và đôi khi là cách doanh nghiệp đối diện với áp lực hợp đồng. Khi quyền lực tổ chức không đi kèm văn hóa tuân thủ, cái đúng trên giấy có thể trở thành cái sai ngoài đường. Và cũng có những trường hợp dữ liệu bị gián đoạn đúng vào thời điểm bất lợi, khiến căn cứ xử lý yếu đi, rồi từ đó tạo ra tâm lý “cứ làm rồi tính”. Tôi chỉ dừng ở mức nhận diện như vậy, vì mô tả sâu quá sẽ biến bài cảnh báo thành bài hướng dẫn, và tôi không muốn làm việc đó.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là câu chuyện này hiếm khi chỉ là hành vi của một cá nhân. Nó thường là sản phẩm của một hệ sinh thái áp lực. Tài xế bị khoán chuyến, bị khoán doanh thu, bị thúc tiến độ, bị phạt nếu trễ, bị so sánh nếu chạy ít. Trong khi đó, chủ xe cần tối ưu hóa vòng quay, doanh nghiệp vận tải cần đáp ứng hợp đồng, và chủ hàng cần giao hàng đúng giờ. Và trong chuỗi đó, chi phí tuân thủ thường bị đẩy lên người cầm vô lăng, người ít có quyền quyết định nhất về lịch chạy. Bởi vậy, nếu chỉ xử ở ngọn, câu chuyện sẽ lặp lại như một vòng tròn, phạt rồi né, né rồi phạt, trong khi rủi ro thật vẫn nằm trên đường.

Tấm thẻ mà bác tài dùng trong xe của tôi gợi ra một lớp vấn đề khác mà cơ quan thực thi cần nhìn thẳng vào. Nếu ngoài các thẻ định danh hợp pháp, thực tế còn tồn tại những thẻ hoặc công cụ được dùng để đối phó với cảnh báo hoặc cách ghi nhận dữ liệu, thì câu hỏi hợp lý là những thứ đó đến từ đâu, tài xế nhận hay mua từ ai. Trên đời này hiếm có đồ nghề nào tự mọc lên mà không có nguồn cung. Nguồn đó có thể đến từ việc buông lỏng quản lý thẻ và tài khoản định danh tại doanh nghiệp vận tải. Nó có thể xuất phát từ các điểm lắp đặt và bảo trì thiết bị, nơi có người hiểu hệ thống và có thể gợi ý cách né tránh. Nó cũng có thể hình thành một thị trường ngầm, nơi những thứ giúp yên chuyện được truyền tay nhau như một phần văn hóa ngành, ai cũng nghe nhưng không ai muốn nói.

Tôi không nêu cách thức cụ thể và cũng không nêu địa chỉ dưới bất kỳ hình thức nào. Nhưng nếu xem đây là rủi ro thật, thì phản ứng không thể chỉ dừng ở việc lập biên bản với một vài bác tài. Công an cần kiểm tra theo hướng truy nguồn gốc. Cần kiểm tra các điểm lắp đặt và bảo trì, kiểm tra nhà cung cấp thiết bị và dịch vụ dữ liệu, kiểm tra quy trình quản lý thẻ định danh của doanh nghiệp, và kiểm tra các dấu hiệu bất thường trong dữ liệu vận hành. Cần làm rõ thẻ định danh hợp pháp là gì, quy trình cấp phát ra sao, và được quản lý như thế nào. Nếu tồn tại thẻ hay công cụ đối phó, nó đi qua những bàn tay nào và lợi ích kinh tế nằm ở đâu. Khi rủi ro bị truy ngược đến nơi phát sinh, thị trường đối phó sẽ co lại. Còn nếu chỉ xử ngoài đường mà không chạm vào nơi phát sinh, cuộc chơi sẽ luôn có phần tiếp theo, như bác tài đã nói một cách rất bình thản.

Cao trào của chuyến đi, với tôi, là khi đến một đoạn đèo có sương. Xe lướt qua một khúc cua hẹp và gặp một xe tải đi ngược chiều, tạo ra một cơn gió mạnh. Và trong đầu tôi bỗng nảy lên một câu hỏi lạnh gáy. Nếu bác tài đã mệt, điều gì bảo đảm rằng cái được tắt đi chỉ là âm thanh khó chịu, chứ không phải là lời nhắc cuối cùng trước khi con người bước qua ngưỡng nguy hiểm. Tôi thuê xe một chiều. Tôi không phải là người bị thúc giờ. Tôi không phải là người cần kịp chuyến. Nhưng tôi vẫn bị đặt trước một lựa chọn, và lựa chọn ấy khiến tôi thấy an toàn giao thông đôi khi không chỉ là nghĩa vụ của người lái, mà còn là một kiểu mặc cả vô hình giữa người lái và người ngồi phía sau. Mặc cả không bằng tiền mà bằng sự im lặng, bằng cái gật đầu, bằng tâm lý “thôi cho qua” và bằng việc ưu tiên chữ “kịp” hơn chữ “an toàn”.

Nếu hỏi giải pháp nằm ở đâu, tôi nghĩ câu trả lời phải đi theo hướng làm cho việc tuân thủ trở nên khả thi hơn và làm cho việc gian lận trở nên rủi ro cao, chứ không chỉ tăng mức phạt rồi hy vọng mọi thứ sẽ tự tốt lên. Quy định bốn giờ liên tục muốn đi vào đời sống cần đi kèm các điều kiện tối thiểu, đó là hạ tầng dừng nghỉ an toàn và cơ chế vận hành của doanh nghiệp vận tải. Khi không có nơi dừng nghỉ đúng nghĩa, tài xế sẽ dừng kiểu đối phó hoặc chạy kiểu liều. Khi doanh nghiệp vẫn khoán theo chuyến và thưởng theo số vòng quay mà không thưởng theo mức độ tuân thủ, tài xế sẽ bị kéo về phía chữ “kịp”. Khi cơ quan quản lý chỉ dựa vào một nguồn dữ liệu, dữ liệu có thể bị làm đẹp. Vì vậy, kiểm tra chéo nhiều nguồn, tăng khả năng phát hiện bất thường, truy nguồn công cụ đối phó, và kéo trách nhiệm lên đúng nơi có quyền tổ chức là những mảnh ghép bắt buộc nếu muốn câu chữ của luật trở thành an toàn thật ngoài đường.

Tôi không muốn kết bài bằng một lời kêu gọi giáo điều, vì kêu gọi thì dễ, còn thay đổi thì khó. Tôi chỉ muốn để lại một câu hỏi mở. Khi tiếng bíp bíp bíp vang lên và người tài xế nói đã quá 4 giờ theo quy định nhưng vẫn chạy tiếp, chúng ta nên phản ứng thế nào để vừa giữ được kỷ cương của luật, vừa không đẩy người mưu sinh vào chỗ phải học mẹo. Và nếu câu trả lời là cần một cơ chế tử tế hơn, từ điểm dừng nghỉ an toàn đến trách nhiệm của doanh nghiệp vận tải và việc truy nguồn các công cụ đối phó, thì ai sẽ là người trả chi phí cho sự an toàn ấy. Người tài xế, doanh nghiệp, hay toàn xã hội.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Bớt nhà, thêm đời

  Bớt nhà, thêm đời (Luật sư Nguyễn Hữu Phước - Công ty luật Phuoc & Partners) Tôi biết một người anh đã ngoài sáu mươi tuổi có 3 că...