Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn

 

Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Có những cuộc ly hôn không kết thúc bằng cái bắt tay, mà bằng nhiều năm im lặng đến mức hai người từng chung chăn gối trở thành hai địa chỉ pháp lý của nhau. Mọi việc liên quan đến con cái, từ tiền cấp dưỡng, học phí, đưa đón đi học, họp phụ huynh, chữa bệnh, làm hộ chiếu, ký giấy đồng ý cho con xuất cảnh du lịch, đều phải đi qua luật sư, người thân hoặc một người thứ ba nào đó được cả hai miễn cưỡng chấp nhận. Họ không gọi điện, nhắn tin hay ngồi chung trong một căn phòng nếu có thể tránh được; thậm chí có người sau ly hôn còn lặn mất tăm, để lại người kia một mình xoay xở với con cái, những hóa đơn và một nỗi giận không biết gửi vào đâu.

Vì thế, khi nghe chuyện một cặp vợ chồng cũ sau mười mấy năm bỗng liên lạc lại, làm lành, thậm chí tái hôn, công chúng thường bị cuốn vào ý nghĩ lãng mạn rằng tình yêu đích thực rồi sẽ tìm được lối về. Nhưng đời sống thật sự phức tạp hơn nhiều. Có cuộc trở về là một phép lành, có cuộc trở về chỉ là vòng lặp của một vết thương cũ, và cũng có cuộc trở về không nhằm nối lại tình yêu mà chỉ để hai người làm nhau đau thêm.

Gần đây, câu chuyện Tom Cruise được cho là đang hàn gắn với Nicole Kidman sau hơn hai thập kỷ chia tay đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Được biết, hai người được cho là đã bí mật liên lạc, thảo luận về khả năng gặp mặt trực tiếp và “gác lại mọi chuyện” sau 25 năm, trong đó các con chung cũng là một phần quan trọng của cuộc hội ngộ ấy. Tuy nhiên, phải nói rõ rằng đây mới chỉ là câu chuyện làm lành, chưa phải là một cuộc tái hợp tình cảm. Làm lành, tự nó, đã là một bước rất lớn, bởi có những người cũ không cần trở lại làm vợ chồng; họ chỉ cần thôi là vùng cấm trong ký ức của nhau.

Nếu cần một ví dụ đúng nghĩa hơn về chuyện ly hôn, đi qua những mối quan hệ khác rồi quay lại, thì Marie Osmond và Steve Craig là một trường hợp tiêu biểu. Marie Osmond là ca sĩ, diễn viên, người dẫn chương trình nổi tiếng của Mỹ, còn Steve Craig là cựu vận động viên bóng rổ đại học, từng chơi cho Brigham Young University. Họ cưới nhau năm 1982, có một con trai, ly hôn năm 1985, rồi Marie bước vào cuộc hôn nhân kéo dài 21 năm với Brian Blosil trước khi chia tay năm 2007. Đến năm 2011, tức 26 năm sau cuộc ly hôn đầu tiên, Marie và Steve tái hôn qua người con trai chung và trong lễ cưới lần hai, Marie mặc lại chiếc váy cưới của lần đầu.



Chi tiết chiếc váy ấy đẹp đến mức dễ làm người ta mềm lòng, nhưng vẻ đẹp của nó không nằm ở việc người phụ nữ quay lại làm cô dâu năm 22 tuổi, mà ở chỗ cô ấy đã bước vào cuộc hôn nhân thứ hai với cùng một người đàn ông, với một trái tim đã đi qua quá nhiều biến cố. Steve năm 2011 không còn là anh ấy của năm 1985 và Marie của năm 2011 cũng không còn là cô ấy tuổi đôi mươi; hai người từng không thể sống với nhau, nhưng sau gần một đời người, họ có thể gặp lại ở một vị trí khác, ít hiếu thắng hơn, ít ảo tưởng hơn và có lẽ cũng ít cần chứng minh mình đúng hơn.

Trong nghề luật sư ly hôn, tôi đã gặp những câu chuyện không nổi tiếng như thế, nhưng vẫn có sức nặng riêng của đời thường. Một lần, tôi tiếp một đôi vợ chồng doanh nhân thành đạt đã ly hôn được gần 15 năm. Câu chuyện này là trường hợp tổng hợp từ nhiều hồ sơ, đã thay đổi chi tiết nhận dạng, nhưng cảm giác của nó thì rất thật vì họ đã không nói chuyện trực tiếp suốt nhiều năm, mọi khoản cấp dưỡng đều đi qua tài khoản ngân hàng, mọi giấy tờ của con đều đi qua luật sư, mọi cuộc họp phụ huynh được chia ca để không ai phải chạm mặt ai. Người mẹ từng nói với tôi rằng có lẽ ngày duy nhất chị phải gặp lại chồng cũ là ngày con gái lập gia đình, và chị đã chuẩn bị tinh thần cho cuộc gặp ấy như người ta chuẩn bị đi qua một căn phòng cũ đầy bụi.

Rồi ngày đó đến thật. Cô con gái sắp cưới không xin cha mẹ yêu lại nhau, không mong một phép màu kiểu phim ảnh, mà chỉ nhắn: “Con không cần ba mẹ làm hòa vì con, con chỉ xin ba mẹ đừng làm con sợ trong ngày cưới.” Câu ấy khiến cả hai người cùng xuất hiện trong văn phòng tôi để bàn một thỏa thuận rất thực tế rằng ai sẽ đứng ở đâu trong lễ cưới, ai ký giấy tờ nào, ai hỗ trợ khoản nào, và làm sao để họ không biến ngày vui của con thành phiên tòa cuối cùng của cuộc hôn nhân đã chết.

Ban đầu, họ vẫn nói chuyện với nhau qua tôi dù ngồi cách nhau chưa đầy hai mét. Người phụ nữ nhắc chuyện anh từng biến mất khi con vào đại học, người đàn ông nhắc chuyện chị từng cấm anh đến trường con, rồi họ cao giọng như thể 15 năm im lặng chỉ là cách nén thuốc nổ vào căn phòng. Tôi đã nghĩ buổi gặp sẽ đổ vỡ, cho đến khi người đàn ông lấy từ túi giấy ra một xấp ảnh cũ của con gái từ thời mẫu giáo, những tấm ảnh người mẹ tưởng ông đã vứt đi từ lâu. Ông nói rất khẽ: “Tôi tưởng mình chỉ cần gặp lại cô ấy một lần trong ngày cưới của con, nhưng giờ tôi mới hiểu con bé đã phải lớn lên giữa hai người lớn không biết đặt nó lên trên cơn giận của mình.”

Người phụ nữ không tha thứ ngay, bởi không ai có quyền đòi một người tha thứ chỉ vì mình vừa nói một câu muộn màng. Nhưng chị ngồi xuống lại, nhìn những tấm ảnh rất lâu rồi nói: “Tôi không muốn cưới lại, nhưng tôi cũng không muốn ghét nữa.” Với tôi, đó cũng là một dạng tái hợp, không phải tái hợp của vợ chồng, mà là tái hợp của hai con người trưởng thành với trách nhiệm làm cha mẹ, sau nhiều năm để sự tổn thương thay mình điều khiển mọi quyết định.

Chính ở đây, câu hỏi dành cho Nhà nước và cộng đồng về việc có nên khuyến khích những cuộc tái hợp kiểu này hay không cần được trả lời một cách thật thận trọng. Điều cần khuyến khích không phải là “vì con thì quay lại”, càng không phải là ép người đã rời khỏi một cuộc hôn nhân đau đớn phải trở về để giữ hình ảnh gia đình trọn vẹn. Điều nên được khuyến khích là một cách ứng xử văn minh sau ly hôn, trong đó cha mẹ không còn là vợ chồng nhưng vẫn có thể cùng chịu trách nhiệm đối với con chung; còn việc tái hôn chỉ nên được tôn trọng khi tự nguyện, an toàn và thật sự có lợi cho những người liên quan.

Pháp luật Việt Nam đặt nền tảng hôn nhân trên sự tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; nếu vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn lại, chứ việc sống chung hay tổ chức đám cưới không tự động khôi phục quan hệ hôn nhân.

Từ góc nhìn cộng đồng, điều nguy hiểm nhất là lãng mạn hóa mọi sự quay về, bởi không phải người cũ nào cũng xứng đáng được mở cửa lại. Những quan hệ từng có bạo lực, kiểm soát, thao túng, ngoại tình lặp lại, nghiện ngập không được điều trị hoặc xúc phạm kéo dài không trở nên lành mạnh chỉ vì hai người thấy cô đơn sau nhiều năm. Nghiên cứu về các mối quan hệ “on-again, off-again” cũng cho thấy việc chia tay rồi quay lại nhiều lần có thể liên quan đến mức độ đau khổ tâm lý cao hơn, giao tiếp kém hơn và cam kết thấp hơn, dù không phải mọi lần quay lại đều nhất thiết dẫn đến kết cục xấu.

Vì vậy, với những cặp đôi đang nghĩ đến chuyện nối lại sau nhiều năm, lời khuyên đầu tiên không phải là hãy yêu lại ngay, mà là hãy thử cùng giải quyết một việc nhỏ của con mà không làm tổn thương nhau. Nếu nhiều năm qua mọi thứ phải đi qua luật sư hoặc người thứ ba, việc duy trì một kênh liên lạc có kiểm soát như email, lịch chung hoặc một thỏa thuận bằng văn bản không phải là lạnh lùng, mà có thể là cách để cả hai được bảo vệ khỏi thói quen cũ. Khi sự an toàn cảm xúc chưa đủ, trung gian không phải là thất bại, mà là một chiếc lan can.

Lời khuyên tiếp theo là cần gọi đúng tên nguyên nhân của việc ly hôn. Đừng chỉ nói “hồi đó còn trẻ”, vì tuổi trẻ không tự làm hôn nhân tan vỡ; cái làm hôn nhân tan vỡ thường là sự im lặng dùng để trừng phạt, sự kiểm soát nhân danh yêu thương, sự hơn thua trong tiền bạc, sự phản bội, sự khinh thường hoặc việc không ai chịu xin lỗi trước khi người kia kiệt sức. Nếu nguyên nhân cũ chưa được nhìn thẳng, tái hợp rất dễ bắt đầu bằng vài tháng dịu dàng rồi kết thúc đúng trong căn phòng cũ, chỉ khác là lần này ai cũng mệt hơn.

Lời khuyên tiếp theo nữa là đừng biến con cái thành người mai mối, người đưa tin hay con tin cảm xúc của cha mẹ. Một đứa trẻ có thể vui khi thấy cha mẹ nói chuyện lại, nhưng niềm vui ấy thường rất mong manh, bởi nó đi kèm nỗi sợ bị thất vọng thêm một lần nữa. Trước khi công khai chuyện tái hợp, cha mẹ cần chứng minh bằng hành vi rằng họ có thể tôn trọng nhau, thống nhất được những việc căn bản và không bắt con làm nhân chứng cho một cuộc thử nghiệm tình cảm chưa đủ chín.

Lời khuyên cuối cùng là càng xúc động, càng phải minh bạch về pháp lý và tài chính. Những người từng ly hôn nên nói rõ tài sản riêng, tài sản chung dự kiến, nghĩa vụ cấp dưỡng còn tồn tại, quyền lợi của con chung và con riêng, khoản nợ, chỗ ở, chi phí học hành, quyền thừa kế và cả cách xử lý nếu lần quay lại này không thành. Tình yêu lần hai có thể dịu hơn lần một, nhưng chính vì đã từng đổ vỡ, nó càng cần những ranh giới rõ ràng để không chết thêm lần nữa vì những điều từng bị né tránh.

Sau cùng, không phải cuộc trở về nào cũng cần kết thúc bằng một đám cưới lần hai. Có người tái hôn như Marie Osmond và Steve Craig, sau khi đi gần hết một vòng đời mới hiểu điều gì từng quan trọng và điều gì hóa ra không đáng để hơn thua. Có người chỉ làm lành như một cách đặt xuống quá khứ, để con cái không còn phải sống giữa hai bờ im lặng. Cũng có người không bao giờ nên quay lại, vì rời đi là quyết định đúng đắn nhất để bảo vệ bản thân.

Nhưng nếu một ngày nào đó, sau nhiều năm chỉ nói chuyện qua luật sư, qua người thân, qua những văn bản lạnh lẽo, hai người cũ có thể ngồi cùng nhau trong lễ cưới của con, ký một giấy tờ cần thiết mà không gây khó dễ, hoặc nhìn nhau đủ bình tĩnh để hiểu rằng đứa trẻ năm xưa không đáng phải gánh thêm cuộc chiến của cha mẹ, thì có lẽ đó cũng là một dạng đoàn tụ. Không ồn ào, không nhất thiết lãng mạn, không cần gọi là yêu lại. Chỉ là hai người từng làm nhau đau cuối cùng đã học được cách không làm đau thêm những người vô tội, và đôi khi, trong đời sống gia đình, như thế đã là một khởi đầu đẹp.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Sức ép sở hữu trí tuệ từ Mỹ: Việt Nam biến áp lực thành cuộc làm sạch thị trường

 

Sức ép sở hữu trí tuệ từ Mỹ: Việt Nam biến áp lực thành cuộc làm sạch thị trường

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Việc Mỹ đưa Việt Nam vào nhóm bị đặc biệt quan ngại về quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) trong Báo cáo Đặc biệt 301 năm 2026 chắc chắn là một tín hiệu không vui. Ngày 30/4/2026, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố báo cáo thường niên về mức độ bảo hộ và thực thi QSHTT của các đối tác thương mại, trong đó xác định Việt Nam là Priority Foreign Country (Quốc gia Nước ngoài Ưu tiên). USTR cũng cho biết sẽ quyết định trong vòng 30 ngày tới liệu có mở điều tra theo Mục 301 của Luật Thương mại 1974 hay không.

Nhìn bề ngoài, đây chỉ là sức ép thương mại. Nhưng nhìn sâu hơn, đây là một phép thử về việc Việt Nam sẽ chỉ phản ứng để “làm vừa lòng” đối tác, hay sẽ biến sức ép ấy thành cơ hội để làm sạch thị trường, bảo vệ doanh nghiệp chân chính, bảo vệ người sáng tạo và nâng cao uy tín quốc gia?

Câu trả lời đang dần hiện ra đó là Việt Nam không chỉ nói mà còn đang làm.

Điều cần nói là Việt Nam không đợi đến khi Mỹ lên tiếng mới bắt đầu hành động. Từ ngày 30/1/2026, Thủ tướng đã ký Chỉ thị 02/CT-TTg về việc tăng cường thực thi QSHTT. Chỉ thị nhận định rằng tình trạng xâm phạm QSHTT vẫn phức tạp, tinh vi trong cả thương mại truyền thống lẫn thương mại điện tử, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, cũng như uy tín quốc gia.



Đó là điểm mấu chốt. Việt Nam không phủ nhận khoảng trống và còn chỉ ra những khoảng trống cần lấp đầy. Khoảng trống ấy nằm ở hàng giả đội lốt hàng thật, nhãn hiệu bị làm nhái, phần mềm bị sử dụng lậu tại doanh nghiệp, tác phẩm âm nhạc, phim ảnh, chương trình biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình bị khai thác trái phép trên môi trường số, và nằm trong những mô hình kinh doanh kiếm tiền từ tài sản trí tuệ của người khác nhưng lại xem bản quyền là chuyện có thể “tính sau”.

Vì vậy, nếu gọi những động thái gần đây của Việt Nam là “lấy lòng đối tác thương mại” thì sẽ quá hẹp. Chính xác hơn, đây là cuộc chỉnh đốn cần thiết để nền kinh tế Việt Nam bước sang một nấc thang mới, đó là luật chơi minh bạch, tài sản trí tuệ được bảo vệ, sáng tạo được trả công xứng đáng và doanh nghiệp làm ăn tử tế không bị cạnh tranh bởi hàng giả, hàng nhái, nội dung lậu.

Sau Chỉ thị 02, Chính phủ tiếp tục đẩy nhịp hành động lên cao bằng Công điện 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026, yêu cầu các lực lượng chức năng ra quân trên cả nước từ ngày 7/5 đến 30/5 để ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm QSHTT. Tinh thần được nêu rõ rằng phải xử lý nghiêm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Đặc biệt, Công điện 38 yêu cầu Bộ Công an tập trung xác minh, điều tra, khởi tố một số vụ án xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý; đồng thời triệt phá các website và tổ chức điều hành website vi phạm bản quyền trực tuyến có lượng truy cập lớn, nhất là các trang phim, âm nhạc, trò chơi điện tử và chương trình truyền hình lậu. Công điện cũng yêu cầu kiểm tra bản quyền chương trình máy tính tại doanh nghiệp, xử lý vi phạm trên môi trường mạng, siết chặt việc xử lý hàng giả mạo nhãn hiệu và tăng tối thiểu 20% số vụ xử lý so với tháng 5/2025 ở một số mảng trọng điểm.

Và rồi cao trào xuất hiện. Ngày 16/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố 5 vụ án hình sự về tội “xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Các vụ án liên quan đến Công ty BH Media, Lululola Entertainment, nhóm 1900 Group, Công ty Mây Sài Gòn, Trung tâm Giọng ca để đời và các chủ sở hữu của các công ty này. Vậy, đây không còn là lời hứa nữa mà là hồ sơ vụ án. Đây không còn là tuyên truyền chống vi phạm bản quyền mà là việc thực thi pháp luật bằng biện pháp hình sự.

Thông điệp gửi tới thị trường vì thế rất rõ rằng thời của “xài tạm”, “dùng trước xin phép sau”, “kiếm tiền rồi thương lượng sau” đang dần khép lại.

Vụ việc ở trên có ý nghĩa vượt ra ngoài một vụ án cụ thể. Nó chạm đúng vào những vùng nhạy cảm của kinh tế số Việt Nam, là bản quyền âm nhạc, quyền liên quan, bản ghi, quyền biểu diễn, nền tảng số, doanh thu từ nội dung và trách nhiệm của các đơn vị khai thác thương mại. Đây là nơi lâu nay dễ phát sinh tranh chấp, vì tài sản không nằm trên kệ hàng, container hay kho bãi, mà nằm trong bài hát, bản thu, video, dữ liệu, nền tảng và lượt xem.

Một nền kinh tế muốn phát triển bằng sáng tạo thì không thể xem nhẹ tài sản vô hình. Một quốc gia muốn thu hút đầu tư công nghệ, công nghiệp văn hóa, truyền thông số, phần mềm, giải trí, giáo dục trực tuyến thì không thể để thị trường bản quyền bị xem là vùng xám. Và một doanh nghiệp Việt Nam muốn bước ra thế giới cũng phải học cách tôn trọng QSHTT của người khác, giống như mong muốn thế giới tôn trọng thương hiệu, sáng chế, thiết kế, nội dung và sản phẩm của chính mình.

Vì vậy, Việt Nam có cơ sở để nói với Mỹ rằng chúng tôi đang hành động không phải vì bị ép, mà vì đây là lợi ích của chính Việt Nam.

Thực thi QSHTT không phải là món quà dành cho Washington, mà là hàng rào bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam khỏi hàng giả. Nó là tấm khiên bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam khỏi sự cạnh tranh bất chính. Nó là công cụ bảo vệ các nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất, nhà phát triển phần mềm, nhà thiết kế, nhà sáng chế, người làm nội dung và các ngành công nghiệp sáng tạo trong nước. Nó cũng là cách Việt Nam giữ uy tín trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi một vi phạm nhỏ về nhãn hiệu, bản quyền hay phần mềm cũng có thể làm tổn hại đến niềm tin của các đối tác quốc tế.

Quan trọng hơn, Việt Nam đang cho thấy cách tiếp cận ngày càng bài bản. Chỉ thị 02 yêu cầu tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đẩy nhanh điều tra, truy tố, xét xử và tăng cường xử lý hình sự đối với các vụ xâm phạm QSHTT. Chỉ thị cũng đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi pháp luật nhằm mở rộng phạm vi xử lý, tăng tính răn đe đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp.

Công điện 38 tiếp tục yêu cầu sau ngày 30/5/2026, các bộ, ngành, địa phương phải rà soát, đánh giá và tiếp tục tăng cường thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm công tác đấu tranh chống xâm phạm QSHTT được triển khai thường xuyên, liên tục, có hệ thống, trọng tâm, trọng điểm.

Tất nhiên, không nên tô hồng vì chặng đường phía trước còn dài. Website lậu có thể biến mất khỏi một tên miền rồi mọc lại ở tên miền khác. Hàng giả có thể đi từ chợ truyền thống lên sàn thương mại điện tử, từ cửa hàng nhỏ lên livestream, từ biên giới vào kho hàng, rồi từ kho hàng đến tay người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn xem bản quyền phần mềm, hình ảnh, âm nhạc và thiết kế là chi phí có thể bỏ qua. Một bộ phận người tiêu dùng vẫn quen với hàng nhái, phim lậu, nhạc lậu, phần mềm lậu vì “rẻ hơn” hoặc “tiện hơn”.

Nhưng chính vì thế, cao điểm lần này không thể chỉ là việc của các cơ quan chức năng. Chính phủ có thể ban hành chỉ thị, Bộ Công an có thể khởi tố, Quản lý thị trường có thể kiểm tra, Hải quan có thể siết chặt biên giới. Nhưng để một xã hội thật sự tôn trọng QSHTT, cần nhiều hơn là mệnh lệnh hành chính. Cần sự thay đổi từ thị trường, từ hiệp hội, từ doanh nghiệp và từ mỗi người dân.

Các hiệp hội ngành hàng cần chủ động lập danh sách vi phạm, chia sẻ dữ liệu với cơ quan chức năng, hỗ trợ hội viên đăng ký và bảo vệ QSHTT. Doanh nghiệp cần rà soát lại phần mềm, nhãn hiệu, hợp đồng bản quyền, nguồn gốc nội dung, hình ảnh, âm nhạc và thiết kế đang sử dụng. Các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội, đơn vị trung gian thanh toán và quảng cáo cần phối hợp nhanh hơn để gỡ bỏ, chặn doanh thu và truy vết các mô hình kinh doanh dựa trên hàng giả, hàng nhái và nội dung lậu.

Người sáng tạo cũng không thể đứng ngoài. Nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất, nhà văn, nhà báo, nhà thiết kế, lập trình viên, người làm nội dung cần đăng ký, lưu trữ bằng chứng, sử dụng hợp đồng rõ ràng và lên tiếng khi quyền lợi bị xâm phạm. Còn người tiêu dùng, mỗi lần chúng ta chọn mua hàng thật thay vì hàng giả, xem nội dung hợp pháp thay vì nội dung lậu, dùng phần mềm có bản quyền thay vì phần mềm crack, chúng ta đang góp phần xây dựng một nền kinh tế tử tế hơn.

Sức ép từ Mỹ có thể là hồi chuông từ bên ngoài. Nhưng cuộc cải cách này phải là lựa chọn nội tại của Việt Nam.

Bảo vệ QSHTT không chỉ để tránh bị điều tra thương mại mà còn để bảo vệ danh dự của hàng Việt, giá trị của trí tuệ Việt, quyền lợi của người sáng tạo Việt và tương lai của một nền kinh tế muốn đi lên bằng chất lượng, công nghệ và sự sáng tạo.

Việt Nam đã bắt đầu bước vào cuộc làm sạch ấy. Bây giờ, điều cần nhất là không để đây chỉ là một đợt cao điểm ngắn ngày mà hãy biến nó thành một chuẩn mực lâu dài. Hãy để Chính phủ hành động, doanh nghiệp tuân thủ, hiệp hội đồng hành, nền tảng công nghệ phối hợp và người dân thay đổi thói quen tiêu dùng - không phải để “lấy lòng” ai, mà để Việt Nam trở thành một quốc gia biết tôn trọng sáng tạo, bảo vệ tài sản trí tuệ và cạnh tranh bằng giá trị thật.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn

 

Chấm dứt hợp đồng lao động – giữa pháp lý và nhân văn

 (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là thời khắc nhạy cảm nhất trong quan hệ lao động. Đó không chỉ là điểm kết thúc của một thỏa thuận pháp lý, mà còn là thời điểm sinh kế, cảm xúc, danh dự và niềm tin con người va chạm trực diện với quyền quản trị và logic kinh doanh. Trong lý thuyết pháp luật, việc chấm dứt HĐLĐ được thiết kế như một cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt của thị trường lao động, giúp doanh nghiệp thích ứng với biến động kinh tế và cho phép người lao động (NLĐ) tự do chuyển việc làm. Nhưng trong thực tiễn, mỗi quyết định chấm dứt lại thường mang theo những dư chấn xã hội sâu sắc, đặc biệt khi nó diễn ra trong bối cảnh mất việc làm, tái cấu trúc hoặc tranh chấp kéo dài. Chính tại đây, ranh giới giữa việc “đúng luật” và việc “đúng tình” trở nên mong manh.

Pháp luật lao động Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Lao động 2019, đã xây dựng một khung pháp lý tương đối đầy đủ để điều chỉnh việc chấm dứt HĐLĐ. Các trường hợp chấm dứt hợp pháp, đơn phương chấm dứt, chấm dứt do thỏa thuận, do hết hạn HĐLĐ, do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế đều được quy định chi tiết, kèm theo hệ quả pháp lý rõ ràng. Về mặt lý thuyết, đây là một hệ thống cân bằng giữa quyền quản lý của doanh nghiệp và sự bảo vệ dành cho NLĐ – bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, chính sự chi tiết và chặt chẽ này lại khiến việc chấm dứt trở thành “bãi mìn pháp lý” nếu các bên chỉ tập trung vào việc tuân thủ câu chữ của luật mà bỏ qua yếu tố con người đằng sau mỗi điều khoản.



Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy, rất nhiều vụ việc không phát sinh từ việc doanh nghiệp thiếu căn cứ pháp lý, mà từ cách thức họ thực hiện quyền chấm dứt HĐLĐ. Có những trường hợp doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chấm dứt theo quy định của pháp luật, nhưng lại lựa chọn cách thông báo đột ngột, lạnh lùng hoặc thiếu minh bạch. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất tại một khu công nghiệp phía Nam từng quyết định cắt giảm 10% lao động do đơn hàng sụt giảm nghiêm trọng. Về pháp lý, doanh nghiệp làm gần như “sách giáo khoa”: có báo cáo khó khăn tài chính, có phương án sử dụng lao động, có tham vấn công đoàn cơ sở, có thông báo chấm dứt đúng thời hạn và chi trả đầy đủ trợ cấp mất việc cho NLĐ. Tuy nhiên, những NLĐ bị chấm dứt chỉ nhận được một email của Giám đốc nhân sự gửi đồng loạt vào cuối ngày thứ Sáu, kèm theo lịch bàn giao công việc vào sáng thứ Hai tuần sau. Không có trao đổi trực tiếp, không có lời giải thích riêng, cũng không có sự ghi nhận đối với những đóng góp. Hơn nửa số NLĐ sau đó nộp đơn khởi kiện, không hẳn vì họ tin rằng doanh nghiệp sai luật, mà vì cảm giác bị đối xử như một chi phí phải cắt bỏ hơn là một con người đã từng cống hiến.

Ngược lại, cũng trong bối cảnh tái cấu trúc, một doanh nghiệp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài đã lựa chọn một cách tiếp cận khác. Khi buộc phải chấm dứt hoạt động của một bộ phận kinh doanh, ban giám đốc tổ chức các buổi trao đổi riêng với từng nhân sự bị ảnh hưởng, giải thích rõ lý do kinh doanh, lắng nghe hoàn cảnh cá nhân và linh hoạt điều chỉnh thời điểm chấm dứt đối với những người đang gặp khó khăn đặc biệt. Về pháp lý, doanh nghiệp chỉ thực hiện nghĩa vụ tối thiểu, nhưng về mặt nhân văn, họ làm nhiều hơn so với kỳ vọng. Toàn bộ quá trình chấm dứt diễn ra trong trật tự, không phát sinh tranh chấp, và điều đáng chú ý là nhiều NLĐ sau đó vẫn sẵn sàng quay lại làm việc khi doanh nghiệp được phép hoạt động trở lại. Trường hợp này cho thấy nhân văn không làm suy yếu quyền quản trị, mà ngược lại, củng cố uy tín và năng lực quản trị trong dài hạn.

Sự căng thẳng giữa pháp lý và nhân văn còn thể hiện rõ trong các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ do vi phạm kỷ luật lao động. Không ít doanh nghiệp tin rằng chỉ cần nội quy lao động được đăng ký hợp lệ và hành vi vi phạm là “rõ ràng” và được ghi trong nội quy thì việc chấm dứt sẽ an toàn về mặt pháp lý. Nhưng trên thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh không phải vì hành vi vi phạm, mà vì cách doanh nghiệp ứng xử trước và sau khi chấm dứt hợp đồng. Một NLĐ bị sa thải vì nhiều lần đi trễ, dù nội quy lao động đã quy định rõ ràng. Tuy nhiên, trong suốt quá trình làm việc, NLĐ này chưa từng được nhắc nhở chính thức bằng văn bản, chưa từng được trao đổi về nguyên nhân cá nhân dẫn đến việc đi trễ, và cũng chưa từng được tạo cơ hội để khắc phục. Quyết định sa thải được ban hành đột ngột đã dẫn đến phản ứng gay gắt, không chỉ bằng đơn khởi kiện của NLĐ mà còn bằng việc chia sẻ câu chuyện lên mạng xã hội. Dù doanh nghiệp sau đó chứng minh được mình đã làm đúng quy trình, kỷ luật, tổn thất về hình ảnh và tinh thần nội bộ đã xảy ra và không thể đảo ngược.

Ở chiều ngược lại, cũng là vi phạm kỷ luật, một doanh nghiệp khác đã lựa chọn cách xử lý mềm hơn. Trước khi quyết định chấm dứt, họ tổ chức nhiều cuộc trao đổi, lập biên bản nhắc nhở, thậm chí hỗ trợ NLĐ điều chỉnh giờ làm việc để phù hợp với hoàn cảnh gia đình trong một giai đoạn nhất định. Khi buộc phải chấm dứt, NLĐ chấp nhận quyết định trong tâm thế rằng mình đã được trao cơ hội. Trong trường hợp này, pháp lý và nhân văn không loại trừ nhau, mà bổ trợ cho nhau để tạo ra kết cục ít tổn thương nhất.

Một khía cạnh khác thường bị bỏ quên là tác động của việc chấm dứt HĐLĐ đối với đội ngũ nhân sự còn lại. Cách doanh nghiệp chia tay NLĐ, đặc biệt là NLĐ lâu năm, chính là thông điệp mạnh mẽ nhất gửi tới những người còn lại. Có doanh nghiệp từng đối mặt với làn sóng bất mãn nội bộ chỉ vì cách họ chấm dứt hợp đồng với một quản lý đã gắn bó 15 năm. Người này được thông báo chấm dứt chỉ chưa đầy 10 phút, với lập luận rằng “không còn phù hợp với định hướng mới”. Quyền tái cấu trúc của doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận, nhưng cách chia tay lạnh lùng đó đã tạo ra nỗi sợ hãi và sự hoài nghi trong đội ngũ còn lại. Trong trường hợp này, cái giá của sự thiếu nhân văn không nằm ở một vụ kiện, mà nằm ở sự sụp đổ niềm tin nội bộ và sự suy giảm gắn kết trong tổ chức.

Trong bối cảnh đó, thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ ngày càng được nhìn nhận như một giải pháp dung hòa giữa pháp lý và tính nhân văn. Khi hai bên ngồi lại với nhau, trao đổi minh bạch về lý do, quyền lợi và kỳ vọng, khả năng đạt được một kết cục công bằng sẽ cao hơn nhiều so với việc áp đặt quyết định một cách đơn phương. Tuy nhiên, để thỏa thuận thực sự mang tính nhân văn, nó không thể được xây dựng trên sự ép buộc, đe dọa hay lợi dụng sự thiếu hiểu biết của NLĐ, mà phải dựa trên nguyên tắc thiện chí và sự cân bằng lợi ích. Một thỏa thuận đạt được trong tâm thế tôn trọng lẫn nhau thường giúp các bên khép lại quan hệ lao động một cách trật tự, giảm thiểu xung đột và bảo toàn danh tiếng cho cả hai bên.

Từ phía NLĐ, việc hiểu đúng quyền và nghĩa vụ của mình cũng là một phần trong cách tiếp cận nhân văn. Không phải mọi trường hợp chấm dứt HĐLĐ đều là sai trái hay bất công. Có những thời điểm sự chia tay là cần thiết cho cả hai bên. Thực tiễn cho thấy không ít NLĐ lựa chọn khởi kiện ngay khi bị chấm dứt HĐLĐ với tâm lý “cứ kiện là có tiền”, nhưng sau đó phải đối mặt với áp lực tâm lý kéo dài, chi phí thời gian và nguy cơ bị nhìn nhận như một nhân sự khó hợp tác trên thị trường lao động. Trong khi đó, những người chọn đối thoại, thương lượng và thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ một cách tỉnh táo thường đạt được kết quả thực tế và bền vững hơn.

Ở bình diện rộng hơn, cách thức chấm dứt HĐLĐ phản ánh mức độ trưởng thành của thị trường lao động và của hệ thống tư pháp. Một môi trường mà tranh chấp chấm dứt HĐLĐ thường xuyên leo thang thành các vụ kiện tụng kéo dài cho thấy sự thiếu hụt cơ chế đối thoại và hòa giải hiệu quả. Khi pháp luật được áp dụng máy móc, không tính đến bối cảnh kinh tế - xã hội và yếu tố con người, công lý có thể đúng về hình thức nhưng lại thiếu sức thuyết phục về bản chất. Ngược lại, nếu nhân văn được đặt lên trên pháp lý một cách cực đoan, kỷ cương thị trường sẽ bị xói mòn và môi trường kinh doanh sẽ mất đi tính dự đoán.

Do đó, thách thức lớn nhất không phải là lựa chọn giữa pháp lý và nhân văn, mà là tìm ra điểm cân bằng hợp lý giữa hai yếu tố này. Pháp lý tạo ra khung an toàn và ranh giới rõ ràng, còn nhân văn lấp đầy những khoảng trống mà pháp luật không bao quát hết. Một quyết định chấm dứt HĐLĐ lý tưởng là quyết định vừa đứng vững trước tòa, vừa đứng vững trước lương tâm của những người liên quan. Đó là quyết định mà khi nhìn lại, cả doanh nghiệp và NLĐ đều có thể nói rằng họ đã không làm tổn thương nhau nhiều hơn mức cần thiết.

Trong một thế giới lao động đang thay đổi nhanh chóng bởi công nghệ, toàn cầu hóa và những cú sốc kinh tế khó lường, việc chấm dứt HĐLĐ có lẽ sẽ trở nên phổ biến hơn. Chính vì vậy, cách đối diện và xử lý những cuộc chia tay này sẽ định hình chất lượng quan hệ lao động trong tương lai. Pháp luật có thể tiếp tục được hoàn thiện, nhưng nhân văn thì không thể được ban hành bằng nghị định hay thông tư. Nó nằm ở lựa chọn của từng doanh nghiệp, từng nhà quản lý và từng NLĐ trong những thời khắc khó khăn nhất. Và có lẽ, giá trị lớn nhất của pháp luật lao động không nằm ở việc nó cho phép chấm dứt HĐLĐ như thế nào, mà ở việc nó nhắc nhở các bên rằng đằng sau mỗi hợp đồng là một con người, và mọi cuộc chia tay, dù hợp pháp đến đâu, cũng cần được thực hiện với sự tử tế.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Quy định chạy 4 giờ phải nghỉ - Luật nói dừng lại nhưng mưu sinh lại bảo chạy tiếp đi

 

Quy định chạy 4 giờ phải nghỉ - Luật nói dừng lại nhưng mưu sinh lại bảo chạy tiếp đi

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Tuần rồi tôi có việc ở Đà Lạt nên thuê một chiếc xe có tài xế chở một chiều lên đó, còn chiều về tôi dự định bay về Sài Gòn cho nhanh. Tôi thuê một chuyến bay chiều vì lịch của tôi tương đối chủ động; tôi không cần phải kịp theo nghĩa chạy đua với thời gian, và tôi cũng không muốn biến chuyến đi công việc thành một cuộc thi sức bền trên đường. Vậy mà ngay trên hành trình ấy, tôi lại bị kéo vào một bài toán rất thật của đời sống giao thông hiện nay, bài toán nằm giữa luật lệ và mưu sinh.

Xe chạy được một đoạn dài thì trong cabin bắt đầu vang lên tiếng bíp bíp bíp đều đều. Âm thanh không lớn nhưng dai, kiểu nhắc khiến người ta bực mình dù vẫn đang ngồi yên. Tôi khó chịu nên hỏi xem có chuyện gì. Bác tài nhìn tôi qua gương rồi nói thẳng rằng anh đã chạy liên tục trong 4 giờ nên theo quy định phải dừng lại nghỉ 15 phút. Anh nói câu đó bằng giọng của người đã quá quen với việc bị nhắc giờ, quen đến mức không còn xem đó là chuyện đáng bàn, mà chỉ là một “chốt chặn” cần phải xử lý. Nhưng ngay sau đó, anh nói thêm một câu khiến tôi giật mình. Anh bảo anh còn việc phải quay về Sài Gòn ngay trong ngày nên anh sẽ có chiêu để chạy tiếp.



Nói xong, anh thò tay vào bóp, móc ra một tấm thẻ nhỏ, cạy nhẹ ở khu vực gần táp lô. Tiếng bíp bíp bíp tắt phụt, rồi xe lại lăn bánh như không có chuyện gì. Cái “không có chuyện gì” ấy, với tôi, chính là có chuyện. Bởi theo luật, quy định về thời gian lái xe được thiết kế để bảo vệ an toàn và tiếng bíp là để nhắc tài xế. Tuy nhiên, ngoài đường, nó có lúc bị biến thành một âm thanh gây khó chịu. Và khi âm thanh ấy có thể bị làm im lặng chỉ bằng một động tác thuần thục, tôi hiểu rằng câu chuyện này không còn là chuyện riêng của bác tài nữa.

Lúc đó tôi nhận ra mình đang ngồi giữa một mâu thuẫn rất thật. Một bên là quy định an toàn, bên còn lại là nhịp mưu sinh và chữ kịp. Không phải kịp giờ của tôi vì tôi không phải là người bị thúc. Cái kịp của bác tài là kịp cuộc đời của anh ta, kịp chuyến về, kịp một việc riêng, hoặc kịp một lịch chạy khác mà nếu trễ thì anh có thể bị phạt, bị mất chuyến, bị mất tiền, bị mất lòng chủ xe, hoặc đơn giản là mất một cơ hội kiếm thêm trong ngày. Tôi không còn là người bị thúc mà lại trở thành người nghe một lời đề nghị, mềm nhưng rõ: “Anh có cho tôi đi tiếp luôn không?”, dù câu hỏi ấy không nói ra thành lời theo kiểu xin phép. Trong khoảnh khắc đó, tôi thấy mình cũng bị kéo vào hệ thống áp lực ấy, dù tôi không tạo ra nó, và tôi tự hỏi bao nhiêu hành khách khác đã từng chọn “chạy tiếp” chỉ vì ngại làm khó bác tài, hoặc vì sợ bị trễ, hoặc vì cảm giác quen thuộc “thôi kệ, chắc không sao”.

Về mặt pháp lý, câu chuyện bốn giờ liên tục không phải là một lời khuyên đạo đức. Điều 64 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định rõ đối với người lái xe ô tô kinh doanh vận tải và vận tải nội bộ, không được lái xe liên tục quá bốn giờ, đồng thời còn có giới hạn theo ngày và theo tuần trong giai đoạn đầu mới áp dụng, và yêu cầu bảo đảm các quy định có liên quan của Bộ luật Lao động. Khi một quy định đã được luật hóa, xã hội có quyền kỳ vọng rằng nó được thực hiện đúng tinh thần, chứ không chỉ “đi qua” bằng hình thức.

Cũng cần nói thêm rằng hệ thống chế tài trong giai đoạn này không còn đơn giản là phạt tiền rồi thôi. Nghị định 168/2024/NĐ-CP được ban hành nhằm xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời thiết kế cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe. Khi đã có điểm để trừ, tâm lý sợ bị ghi nhận vi phạm sẽ tăng lên, và điều đó có hai mặt. Một mặt, nó có thể làm kỷ cương tốt hơn. Mặt khác, nó cũng có thể khiến người ta tập trung vào việc né tránh vết thương đã được ghi nhận, trước khi tập trung vào việc giảm rủi ro thực sự.

Từ ngày 1/7/2026, bức tranh pháp lý còn có một điểm mới dễ khiến người ta hiểu sai. Khoản 15 Điều 7 Luật số 118/2025/QH15  được điều chỉnh theo hướng bãi bỏ giới hạn “10 giờ một ngày, 48 giờ một tuần” trong quy định chuyên ngành, chuyển việc giới hạn thời gian làm việc sang khung thời gian làm việc của Bộ luật Lao động, nhưng vẫn giữ nguyên chốt an toàn “không lái liên tục quá 4 giờ”. Luật cũng ghi nhận ngoại lệ trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nghe đến chữ “bãi bỏ 10 giờ”, nhiều người có thể thở phào và tưởng rằng quy định đã được nới lỏng. Nhưng nếu hiểu đúng, luật chỉ chuyển giới hạn theo ngày và tuần sang cơ chế lao động, còn chốt bốn giờ liên tục vẫn giữ vì đây là chốt gắn trực tiếp với mệt mỏi và rủi ro tai nạn.

Chính câu chuyện ngoại lệ “bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” cũng cần được nhìn kỹ từ góc độ thiết kế và thực thi. Trên đường có kẹt xe bất thường, có tai nạn, có thiên tai, có điều tiết giao thông, có những tình huống mà tài xế không thể chủ động lựa chọn điểm dừng như trong sách vở. Ngoại lệ là cần thiết để tránh xử oan người tuân thủ. Nhưng nếu tiêu chí và chứng cứ cho ngoại lệ không được hướng dẫn chặt chẽ, vùng xám sẽ rộng ra, và vùng xám thường là nơi thủ thuật sống khỏe nhất, nhất là trong bối cảnh cơ chế trừ điểm khiến ai cũng sợ “bị ghi nhận”. Ngoại lệ tốt là ngoại lệ bảo vệ người ngay thẳng. Ngoại lệ tệ là ngoại lệ trở thành chiếc ô che cho thói quen chạy sát mép.

Trở lại câu chuyện trên xe, đến đây thường có người nói rằng bốn giờ là con số máy móc; mệt hay không mệt tùy người: có người chạy lâu vẫn tỉnh táo, có người mới chạy đã uể oải. Tôi hiểu điều đó, nhưng luật không thể đo lường từng nhịp tim, từng cơn buồn ngủ và từng mức phản xạ của mỗi cá nhân. Luật buộc phải chọn một ngưỡng phòng ngừa cho số đông. Trong giao thông, phòng ngừa luôn rẻ hơn trả giá, vì trả giá ở đây không chỉ là tiền, mà còn là mạng người, là thương tật, là những gia đình bị cắt đôi.

Cũng có người nói rằng không phải lúc nào cũng có điểm dừng nghỉ an toàn, dừng bừa còn nguy hiểm hơn, nhất là ở những tuyến đường dài hoặc những đoạn đèo dốc. Tôi không phủ nhận. Và chính thực tế ấy cho thấy vấn đề không nằm ở câu chữ của luật mà ở điều kiện tuân thủ. Khi không có điều kiện, người ta sẽ tìm cách đi qua luật bằng hình thức nào? Thậm chí có khi luật được đặt ra để bảo vệ, nhưng đời sống lại đẩy người lái vào lựa chọn xấu, hoặc dừng ở chỗ không an toàn, hoặc chạy tiếp và vi phạm.

Tôi cũng biết không phải tiếng bíp bíp bíp nào cũng liên quan đến giới hạn 4 giờ. Nhiều xe có thiết bị yêu cầu tài xế xác nhận danh tính bằng thẻ hoặc thao tác đăng nhập. Nếu chưa đăng nhập thì thiết bị kêu nhắc, và quẹt thẻ có thể là thao tác hợp lệ. Vì vậy, chỉ nhìn thấy một cú quẹt thẻ thì chưa thể kết luận ngay rằng đó là hành vi lách luật. Nhưng trong tình huống của tôi, chính câu nói của bác tài rằng đã chạy đủ 4 giờ theo quy định và sẽ có cách chạy tiếp mới là điều khiến vấn đề chuyển hướng. Nó không còn là chuyện thẻ là thẻ gì nữa. Nó là chuyện tại sao một quy định an toàn lại được đặt lên bàn như một thứ có thể thương lượng, và tại sao cách chạy tiếp lại được nói ra một cách bình thản như một kỹ năng sống còn.

Trong thực tế, các cách lách quy định về thời gian lái thường không diễn ra theo kiểu phá hoại thiết bị thô bạo như nhiều người tưởng. Thay vào đó, nó thường diễn ra theo hướng khiến dữ liệu trông hợp lệ, còn bản chất an toàn thì bị đẩy xuống hàng sau. Người ta có thể tạo ra một lần dừng đủ để cắt chuỗi liên tục trên hệ thống, nhưng đó không phải là nghỉ đúng nghĩa. Nghỉ đúng nghĩa không chỉ là một dấu “đã dừng”, mà còn là một khoảng thời gian đủ để não và mắt hồi phục, đủ để nhịp thở chậm lại, đủ để phản xạ trở về trạng thái bình thường. Dữ liệu có thể nói rằng đã nghỉ, nhưng cơ thể vẫn đang gồng. Xe có thể “đúng” trên màn hình, nhưng con người vẫn “sai” ở vô lăng.

Cũng có những câu chuyện nằm ở việc định danh người lái. Hệ thống biết ai đang lái xe thông qua định danh và luồng ghi nhận. Nhưng đời sống vận tải lại phụ thuộc vào tổ chức ca kíp, kỷ luật nội bộ, và đôi khi là cách doanh nghiệp đối diện với áp lực hợp đồng. Khi quyền lực tổ chức không đi kèm văn hóa tuân thủ, cái đúng trên giấy có thể trở thành cái sai ngoài đường. Và cũng có những trường hợp dữ liệu bị gián đoạn đúng vào thời điểm bất lợi, khiến căn cứ xử lý yếu đi, rồi từ đó tạo ra tâm lý “cứ làm rồi tính”. Tôi chỉ dừng ở mức nhận diện như vậy, vì mô tả sâu quá sẽ biến bài cảnh báo thành bài hướng dẫn, và tôi không muốn làm việc đó.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là câu chuyện này hiếm khi chỉ là hành vi của một cá nhân. Nó thường là sản phẩm của một hệ sinh thái áp lực. Tài xế bị khoán chuyến, bị khoán doanh thu, bị thúc tiến độ, bị phạt nếu trễ, bị so sánh nếu chạy ít. Trong khi đó, chủ xe cần tối ưu hóa vòng quay, doanh nghiệp vận tải cần đáp ứng hợp đồng, và chủ hàng cần giao hàng đúng giờ. Và trong chuỗi đó, chi phí tuân thủ thường bị đẩy lên người cầm vô lăng, người ít có quyền quyết định nhất về lịch chạy. Bởi vậy, nếu chỉ xử ở ngọn, câu chuyện sẽ lặp lại như một vòng tròn, phạt rồi né, né rồi phạt, trong khi rủi ro thật vẫn nằm trên đường.

Tấm thẻ mà bác tài dùng trong xe của tôi gợi ra một lớp vấn đề khác mà cơ quan thực thi cần nhìn thẳng vào. Nếu ngoài các thẻ định danh hợp pháp, thực tế còn tồn tại những thẻ hoặc công cụ được dùng để đối phó với cảnh báo hoặc cách ghi nhận dữ liệu, thì câu hỏi hợp lý là những thứ đó đến từ đâu, tài xế nhận hay mua từ ai. Trên đời này hiếm có đồ nghề nào tự mọc lên mà không có nguồn cung. Nguồn đó có thể đến từ việc buông lỏng quản lý thẻ và tài khoản định danh tại doanh nghiệp vận tải. Nó có thể xuất phát từ các điểm lắp đặt và bảo trì thiết bị, nơi có người hiểu hệ thống và có thể gợi ý cách né tránh. Nó cũng có thể hình thành một thị trường ngầm, nơi những thứ giúp yên chuyện được truyền tay nhau như một phần văn hóa ngành, ai cũng nghe nhưng không ai muốn nói.

Tôi không nêu cách thức cụ thể và cũng không nêu địa chỉ dưới bất kỳ hình thức nào. Nhưng nếu xem đây là rủi ro thật, thì phản ứng không thể chỉ dừng ở việc lập biên bản với một vài bác tài. Công an cần kiểm tra theo hướng truy nguồn gốc. Cần kiểm tra các điểm lắp đặt và bảo trì, kiểm tra nhà cung cấp thiết bị và dịch vụ dữ liệu, kiểm tra quy trình quản lý thẻ định danh của doanh nghiệp, và kiểm tra các dấu hiệu bất thường trong dữ liệu vận hành. Cần làm rõ thẻ định danh hợp pháp là gì, quy trình cấp phát ra sao, và được quản lý như thế nào. Nếu tồn tại thẻ hay công cụ đối phó, nó đi qua những bàn tay nào và lợi ích kinh tế nằm ở đâu. Khi rủi ro bị truy ngược đến nơi phát sinh, thị trường đối phó sẽ co lại. Còn nếu chỉ xử ngoài đường mà không chạm vào nơi phát sinh, cuộc chơi sẽ luôn có phần tiếp theo, như bác tài đã nói một cách rất bình thản.

Cao trào của chuyến đi, với tôi, là khi đến một đoạn đèo có sương. Xe lướt qua một khúc cua hẹp và gặp một xe tải đi ngược chiều, tạo ra một cơn gió mạnh. Và trong đầu tôi bỗng nảy lên một câu hỏi lạnh gáy. Nếu bác tài đã mệt, điều gì bảo đảm rằng cái được tắt đi chỉ là âm thanh khó chịu, chứ không phải là lời nhắc cuối cùng trước khi con người bước qua ngưỡng nguy hiểm. Tôi thuê xe một chiều. Tôi không phải là người bị thúc giờ. Tôi không phải là người cần kịp chuyến. Nhưng tôi vẫn bị đặt trước một lựa chọn, và lựa chọn ấy khiến tôi thấy an toàn giao thông đôi khi không chỉ là nghĩa vụ của người lái, mà còn là một kiểu mặc cả vô hình giữa người lái và người ngồi phía sau. Mặc cả không bằng tiền mà bằng sự im lặng, bằng cái gật đầu, bằng tâm lý “thôi cho qua” và bằng việc ưu tiên chữ “kịp” hơn chữ “an toàn”.

Nếu hỏi giải pháp nằm ở đâu, tôi nghĩ câu trả lời phải đi theo hướng làm cho việc tuân thủ trở nên khả thi hơn và làm cho việc gian lận trở nên rủi ro cao, chứ không chỉ tăng mức phạt rồi hy vọng mọi thứ sẽ tự tốt lên. Quy định bốn giờ liên tục muốn đi vào đời sống cần đi kèm các điều kiện tối thiểu, đó là hạ tầng dừng nghỉ an toàn và cơ chế vận hành của doanh nghiệp vận tải. Khi không có nơi dừng nghỉ đúng nghĩa, tài xế sẽ dừng kiểu đối phó hoặc chạy kiểu liều. Khi doanh nghiệp vẫn khoán theo chuyến và thưởng theo số vòng quay mà không thưởng theo mức độ tuân thủ, tài xế sẽ bị kéo về phía chữ “kịp”. Khi cơ quan quản lý chỉ dựa vào một nguồn dữ liệu, dữ liệu có thể bị làm đẹp. Vì vậy, kiểm tra chéo nhiều nguồn, tăng khả năng phát hiện bất thường, truy nguồn công cụ đối phó, và kéo trách nhiệm lên đúng nơi có quyền tổ chức là những mảnh ghép bắt buộc nếu muốn câu chữ của luật trở thành an toàn thật ngoài đường.

Tôi không muốn kết bài bằng một lời kêu gọi giáo điều, vì kêu gọi thì dễ, còn thay đổi thì khó. Tôi chỉ muốn để lại một câu hỏi mở. Khi tiếng bíp bíp bíp vang lên và người tài xế nói đã quá 4 giờ theo quy định nhưng vẫn chạy tiếp, chúng ta nên phản ứng thế nào để vừa giữ được kỷ cương của luật, vừa không đẩy người mưu sinh vào chỗ phải học mẹo. Và nếu câu trả lời là cần một cơ chế tử tế hơn, từ điểm dừng nghỉ an toàn đến trách nhiệm của doanh nghiệp vận tải và việc truy nguồn các công cụ đối phó, thì ai sẽ là người trả chi phí cho sự an toàn ấy. Người tài xế, doanh nghiệp, hay toàn xã hội.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

Già rồi, ai sẽ nuôi mình?

 

Già rồi, ai sẽ nuôi mình?
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)
 

Có một câu hỏi nghe qua tưởng rất xa nhưng thật ra đang đến gần nhanh hơn nhiều người nghĩ. Đó là nếu một ngày mình sống đến tuổi 80 hay thậm chí 90 thì mình sẽ sống bằng gì trong hơn 20 năm cuối đời khi sức khỏe đã yếu đi và khả năng lao động không còn như trước.

Lúc trẻ, phần lớn chúng ta dành nhiều thời gian để nghĩ về chuyện kiếm tiền, mua nhà, đầu tư, khởi nghiệp, du lịch hoặc tận hưởng cuộc sống. Nhưng khá ít người thật sự ngồi xuống để tính nghiêm túc rằng khi mình không còn đủ sức chạy theo công việc thì dòng tiền nào sẽ nuôi mình mỗi tháng. Điều này càng đúng ở các đô thị lớn như TP.HCM hay Hà Nội, nơi chi phí sinh hoạt, y tế và chăm sóc người cao tuổi sẽ tăng nhanh theo thời gian.

Ngày xưa, người Việt có một niềm tin khá tự nhiên rằng người già sẽ có con cháu chăm sóc. Nhưng xã hội đang thay đổi nhanh hơn chúng ta nghĩ. Con cái đi làm xa, du học hoặc định cư nước ngoài ngày càng nhiều. Mô hình gia đình nhiều thế hệ sống cùng nhau đang dần thu hẹp. Trong khi đó, tuổi thọ của người Việt lại tăng lên đáng kể. Điều đó đồng nghĩa với việc thời gian sống sau tuổi nghỉ hưu ngày càng dài hơn và chi phí để duy trì một cuộc sống tương đối ổn định trong giai đoạn này cũng lớn hơn nhiều so với trước đây.

Có lẽ vì vậy mà việc Việt Nam bắt đầu triển khai cơ chế quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện theo Nghị định 85/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/5/2026, thay thế hoàn toàn Nghị định số 88/2016/NĐ-CP, bên cạnh hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, là một thay đổi đáng chú ý hơn nhiều người nghĩ. Nhìn bề ngoài, nhiều người có thể cho rằng đây chỉ là một sản phẩm tài chính hoặc một mô hình quỹ đầu tư nào đó. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đây thật sự là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang dần bước vào xu hướng chung của thế giới, nơi trách nhiệm chuẩn bị cho tuổi già sẽ không còn hoàn toàn đặt lên vai Nhà nước hay gia đình nữa, mà mỗi cá nhân và doanh nghiệp cũng phải tham gia nhiều hơn.

Một câu hỏi khá thú vị là tại sao mô hình này đã phổ biến ở nhiều nước từ lâu nhưng đến giờ Việt Nam mới thật sự thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Câu trả lời đó là thật ra đã có Nghị định 88/2016/NĐ-CP, nhưng đó chỉ là cơ chế thí điểm; còn giờ đây đã hoàn toàn chính thức, nhằm mở rộng quy mô, tạo nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế và tăng tính an toàn cho quỹ hưu trí. Điều đó phản ánh khá rõ quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Ngoài ra, trước đây, mức thu nhập của phần lớn người lao động còn tương đối thấp nên ưu tiên lớn nhất vẫn là lo cơm áo trước mắt, mua căn nhà đầu tiên hoặc nuôi con ăn học. Khi phần đông xã hội còn chưa có nhiều khả năng tiết kiệm dài hạn, các mô hình hưu trí bổ sung cũng khó phát triển mạnh.

Ngoài ra, thị trường tài chính Việt Nam trước đây cũng chưa đủ độ sâu để vận hành hiệu quả các quỹ đầu tư dài hạn quy mô lớn. Một quỹ hưu trí muốn hoạt động bền vững thường cần một hệ thống ngân hàng ổn định, thị trường trái phiếu phát triển, cơ chế giám sát tài chính chặt chẽ và các công ty quản lý quỹ đủ chuyên nghiệp. Đây là những thứ Việt Nam chỉ mới dần hoàn thiện mạnh mẽ trong hơn 10 năm gần đây.

Một lý do khác là Việt Nam trước đây vẫn còn ở giai đoạn “dân số vàng”, nghĩa là số người trẻ đi làm và đóng góp cho hệ thống an sinh còn rất lớn so với số người nghỉ hưu. Nhưng giờ đây, bối cảnh đã khác. Việt Nam đang già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh ở châu Á. Chi phí y tế tăng lên và tuổi thọ cũng tăng lên. Trong khi đó, mô hình gia đình truyền thống, nơi con cái sống chung và chăm sóc cha mẹ già, cũng đang thay đổi nhanh chóng. Điều này tạo áp lực rất lớn lên hệ thống an sinh xã hội trong dài hạn.

Ở nhiều quốc gia phát triển, hệ thống hưu trí từ lâu đã không còn chỉ dựa vào lương hưu của nhà nước. Mỹ có các chương trình 401(k), Anh có workplace pension, Úc có superannuation, còn Singapore có CPF với cơ chế tích lũy rất mạnh. Ngay cả Nhật Bản và Hàn Quốc, vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Á Đông và từng xem việc con cái chăm sóc cha mẹ già là điều hiển nhiên, cũng đang phải thúc đẩy mạnh các mô hình tích lũy hưu trí cá nhân trước áp lực dân số già hóa ngày càng lớn.

Trong bối cảnh đó, quỹ hưu trí bổ sung được xem như một cách để người lao động và doanh nghiệp cùng chuẩn bị thêm cho tuổi già thay vì chỉ trông chờ vào lương hưu bảo hiểm xã hội. Người lao động có thể tự đóng góp thêm, còn doanh nghiệp cũng có thể đóng góp thêm cho nhân viên như một hình thức phúc lợi lao động dài hạn. Khoản tiền này sẽ được đầu tư thông qua các quỹ quản lý chuyên nghiệp và khi đến tuổi nghỉ hưu, người tham gia sẽ nhận thêm một nguồn thu nhập ngoài lương hưu cơ bản.

Nếu nhìn từ góc độ doanh nghiệp thì mô hình này lại có khá nhiều điểm hấp dẫn. Theo đó, bài toán giữ chân nhân sự trong nhiều năm qua luôn là áp lực lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh ngày càng gay gắt. Cách phổ biến nhất để giữ người thường là tăng lương, nhưng tại Việt Nam, mỗi lần tăng lương chính thức cho nhân viên thì doanh nghiệp không chỉ tăng đúng phần lương đó mà còn kéo theo hàng loạt khoản chi phí bắt buộc khác như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn được tính trên nền tiền lương.

Điều đó có nghĩa là việc tăng lương cho một nhân sự cấp quản lý hoặc chuyên gia cao cấp đôi khi sẽ kéo theo mức chi phí thực tế lớn hơn nhiều so với con số ghi trong hợp đồng lao động. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đang cố gắng kiểm soát chi phí nhưng vẫn phải cạnh tranh để giữ người giỏi, quỹ hưu trí bổ sung có thể trở thành một công cụ khá thông minh trong quản trị nhân sự và tài chính.

Hai công ty có thể trả mức lương gần giống nhau, nhưng nếu một bên có thêm chương trình hưu trí bổ sung cho nhân viên sau 10 hoặc 20 năm làm việc thì cảm giác an toàn mà người lao động nhận được sẽ khác hẳn. Người lao động sẽ có cảm giác rằng doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến hiệu suất hiện tại mà còn nghĩ đến cả cuộc sống của họ sau này.

Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp có lẽ sẽ phải bắt đầu nhìn lại toàn bộ chiến lược hoạch định thu nhập cho nhân sự của mình trong thời gian tới. Trước đây, tư duy thường xoay quanh việc tối ưu hóa cấu trúc lương, tiền thưởng hoặc phụ cấp. Nhưng trong tương lai, các chương trình hưu trí bổ sung chắc chắn sẽ trở thành một phần mới trong bài toán hoạch định thuế và chi phí lao động dài hạn của doanh nghiệp.

Nếu được thiết kế hợp lý, doanh nghiệp vừa có thể tạo thêm giá trị cho nhân viên, vừa giảm áp lực tăng mạnh của các khoản bảo hiểm bắt buộc hàng tháng, đồng thời có thể được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế doanh nghiệp trong giới hạn pháp luật về thuế cho phép. Ở chiều ngược lại, người lao động cũng có thể được hưởng cơ chế hoãn thuế thu nhập cá nhân cho đến thời điểm thực nhận khi nghỉ hưu, thay vì bị đánh thuế ngay tại thời điểm đóng góp.

Ngoài thuế, một nỗi lo rất thật khác của người Việt vẫn là lạm phát. Đây là thứ âm thầm bào mòn mọi kế hoạch tài chính dài hạn mà nhiều người thường không nhận ra ngay. Nếu một người bắt đầu tích lũy từ năm 30 tuổi và đến năm 65 tuổi mới nhận tiền thì khoảng thời gian đầu tư có thể kéo dài hơn 30 năm. Trong quãng thời gian đó, sức mua của đồng tiền có thể thay đổi rất lớn. Một tỷ đồng năm 2026 có thể không còn có giá trị tương đương vào năm 2056. Đó là lý do nhiều người Việt vẫn cảm thấy cầm cục đất hoặc giữ vàng “yên tâm hơn” hơn là cầm một lời hứa tài chính kéo dài vài chục năm.

Đây cũng là bài toán cực khó đối với các quỹ hưu trí trên toàn thế giới. Nếu đầu tư quá an toàn thì lợi nhuận có thể thấp hơn tốc độ lạm phát thực tế. Nhưng nếu đầu tư quá mạnh tay để chạy theo lợi nhuận cao thì rủi ro thị trường sẽ tăng lên đáng kể. Và thật ra thế giới cũng đã từng chứng kiến không ít bài học khá đắt giá liên quan đến các quỹ hưu trí. Một trong những vụ nổi tiếng nhất là câu chuyện Enron tại Mỹ vào đầu những năm 2000. Rất nhiều nhân viên của tập đoàn này không chỉ mất việc mà còn mất phần lớn tiền hưu trí vì quỹ đầu tư quá nhiều vào cổ phiếu của chính công ty. Khi Enron sụp đổ vì bê bối gian lận kế toán, giá cổ phiếu gần như về 0 và nhiều người mất gần như toàn bộ khoản tích lũy cho tuổi già.

Điều đó cho thấy không có mô hình tài chính nào hoàn toàn không có rủi ro. Có lẽ vì vậy mà ở nhiều nước phát triển, người có hiểu biết về tài chính thường không bao giờ đặt toàn bộ tuổi già của mình vào một giỏ duy nhất. Họ kết hợp nhiều nguồn khác nhau như lương hưu Nhà nước, quỹ hưu trí doanh nghiệp, bất động sản tạo dòng tiền, đầu tư chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và tiền tiết kiệm.

Có lẽ ý nghĩa lớn nhất của các quỹ hưu trí bổ sung không nằm ở chỗ chúng giúp ai đó trở nên giàu có khi về già, mà là giúp người ta giữ được sự độc lập và lòng tự trọng của mình khi không còn đủ sức lao động nữa. Và biết đâu vài năm tới, khi doanh nghiệp bắt đầu phải tính toán lại toàn bộ chiến lược nhân sự, thuế và phúc lợi dài hạn của mình, câu hỏi quan trọng sẽ không còn chỉ là “công ty này trả lương bao nhiêu”, mà sẽ dần chuyển thành “công ty này giúp mình an tâm cho tương lai đến mức nào”.

Đến một thời điểm nào đó của cuộc đời, điều khiến người ta bất an nhất có lẽ không phải là chuyện già đi. Mà là già đi trong cảm giác mình vẫn còn rất nhiều năm phải sống phía trước, nhưng lại không còn đủ sự chủ động để lựa chọn cuộc sống mình mong muốn nữa.

 https://vnexpress.net/gia-roi-ai-nuoi-minh-5072169.html

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Sửa một bức ảnh, nghĩ rộng hơn về cách sửa luật

 

Sửa một bức ảnh, nghĩ rộng hơn về cách sửa luật

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Vài ngày gần đây, khi Quốc hội đang thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, có một chi tiết nghe qua tưởng nhỏ nhưng lại chạm đúng vào mối quan tâm rất đời thường của nhiều người dân. Đó là đề xuất bỏ quy định người yêu cầu công chứng phải chụp ảnh cùng công chứng viên khi ký văn bản công chứng. Sáng ngày 9/4/2026, tại phiên thảo luận tổ, Chính phủ nêu hướng sửa đổi này, đồng thời có ý kiến từ đại biểu đề nghị cần cân nhắc, đánh giá và tổng kết kỹ hơn trước khi bỏ hẳn.

Thoạt nghe, đây có thể chỉ là một chi tiết kỹ thuật trong quy trình công chứng. Nhưng chính những chi tiết như vậy lại thường phản ánh khá rõ cách một chính sách đi vào đời sống và tác động đến cảm nhận của người dân về sự ổn định của pháp luật. Bởi lẽ theo Luật Công chứng 2024, từ ngày 01/7/2025, việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu vào hồ sơ công chứng. Nay quy định ấy mới được thực hiện chưa lâu thì đã được đề xuất bỏ, với lý do hiện nay công chứng viên có thể dùng thiết bị xác thực cá nhân bằng công nghệ sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hoặc ứng dụng VNeID để xác thực người yêu cầu công chứng và ngăn chặn hành vi giả mạo.

Nếu nhìn theo hướng tích cực, đây không phải là một đề xuất vô lý. Khi công nghệ xác thực đã tiến thêm một bước, việc nhà làm luật muốn cắt bớt một thao tác hành chính cho người dân là điều đáng ghi nhận. Không ai đi công chứng mà lại mong hồ sơ của mình dày lên chỉ vì thêm một thủ tục hình thức. Người dân cần sự an toàn pháp lý, nhưng họ cũng cần sự gọn gàng, dễ hiểu và ít phiền hà hơn trong mỗi giao dịch. Nếu sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hay VNeID đã thực sự làm tốt chức năng nhận diện, thì việc bỏ bớt một yêu cầu cũ rõ ràng là một hướng nên được cân nhắc nghiêm túc.



Nhưng ở chiều ngược lại, cũng cần nhìn công bằng rằng quy định chụp ảnh ban đầu không phải được đặt ra cho có. Khi Luật Công chứng 2024 được ban hành, việc yêu cầu chụp ảnh người ký trước sự chứng kiến của công chứng viên được xem như một lớp bảo đảm bổ sung, nhằm tăng tính minh bạch của quy trình và hỗ trợ hạn chế rủi ro giả mạo trong các giao dịch có giá trị pháp lý cao. Thậm chí, quy định hướng dẫn còn yêu cầu ảnh chụp phải nhận diện được người ký văn bản công chứng và công chứng viên thực hiện việc công chứng. Như vậy, mục tiêu ban đầu của quy định này là làm dày thêm lớp an toàn cho giao dịch dân sự, chứ không đơn thuần là tạo thêm việc làm cho người dân.

Chính vì thế, điều đáng bàn nhất có lẽ không phải là giữ hay bỏ một bức ảnh, mà là cách chúng ta thiết kế và điều chỉnh chính sách sao cho đủ chín chắn. Nếu việc chụp ảnh là cần thiết để phòng ngừa giả mạo, thì vì sao quy định mới, đi vào thực tế chưa đầy một năm, đã thấy cần bỏ? Còn nếu các công cụ xác thực mới đã sẵn sàng và đáng tin cậy đến mức có thể thay thế, thì lẽ ra mức độ sẵn sàng ấy nên được dự báo kỹ hơn ngay từ đầu, để tránh tình trạng xã hội vừa làm quen với một yêu cầu mới thì lại phải chuẩn bị bỏ nó đi. Sửa luật nhanh không phải lúc nào cũng xấu. Có những bất hợp lý được nhận ra sớm thì sửa sớm là tốt. Nhưng việc sửa sớm sẽ thuyết phục hơn nhiều nếu đi kèm một sự tổng kết rõ ràng về hiệu quả thực tế, chi phí tuân thủ và tính khả thi của phương án thay thế. Việc các đại biểu Quốc hội đặt vấn đề cần tổng kết, đánh giá kỹ hơn trước khi bỏ phiếu cho thấy đây không chỉ là chuyện thủ tục nhỏ, mà còn là câu chuyện về chất lượng chuẩn bị chính sách.

Từ đây lại mở ra một lớp vấn đề khác còn đáng chú ý hơn, đó là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một bức ảnh chụp người dân tại thời điểm công chứng, xét về bản chất, không chỉ là một thao tác nghiệp vụ mà còn là việc thu thập dữ liệu cá nhân dưới dạng hình ảnh. Trong khi đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 đã được thông qua ngày 26/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Nói cách khác, ở thời điểm hiện nay, mọi yêu cầu buộc người dân cung cấp thêm dữ liệu nhận diện của mình cho một quy trình hành chính đều cần được soi kỹ hơn dưới góc độ quyền riêng tư, tính cần thiết và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu.

Vì vậy, khi một quy định yêu cầu chụp ảnh người dân trong lúc công chứng, câu hỏi không chỉ là có chụp hay không mà còn là ảnh đó được lưu ở đâu, ai được quyền tiếp cận, được giữ trong bao lâu, dùng đúng cho mục đích nào, có thể bị sử dụng lại ngoài mục đích công chứng hay không, và nếu xảy ra rò rỉ hoặc sử dụng sai thì trách nhiệm thuộc về ai. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đặt ra trách nhiệm đối với bên kiểm soát và bên xử lý dữ liệu, trong đó có nghĩa vụ thông báo vi phạm trong thời hạn 72 giờ khi có sự cố đủ mức độ, cũng như trách nhiệm quản lý, phối hợp xử lý và khắc phục hậu quả. Những quy định này cho thấy việc thu thập thêm dữ liệu không còn là chuyện “cứ thu rồi tính sau”, mà phải đi kèm với năng lực bảo vệ tương xứng.

Nói vậy không có nghĩa là cứ đụng tới dữ liệu cá nhân là phải loại bỏ ngay mọi biện pháp xác thực bằng hình ảnh. Có những trường hợp việc lưu dấu hình ảnh có thể thật sự hữu ích cho việc phòng ngừa tranh chấp hoặc xác minh quá trình ký kết. Nhưng trong thời đại dữ liệu có giá trị ngày càng lớn, nguyên tắc hợp lý hơn có lẽ là chỉ thu thập khi thật sự cần thiết, thu đến đâu thì giải trình đến đó, và bảo vệ đến nơi đến chốn. Một bức ảnh trong hồ sơ công chứng thoạt nhìn có vẻ rất bình thường, nhưng nếu quy trình lưu trữ, phân quyền truy cập và bảo mật không chặt chẽ, thì chính biện pháp được thiết kế để tăng an toàn hôm nay lại có thể mở thêm một cánh cửa rủi ro cho ngày mai. Nhìn ở góc độ này, đề xuất bỏ quy định chụp ảnh không chỉ là chuyện cắt một thủ tục, mà còn có thể là dịp để nhìn lại sâu hơn về cách cơ quan công quyền cân nhắc giữa nhu cầu quản lý và quyền đối với dữ liệu cá nhân của công dân.

Có lẽ vì vậy mà câu chuyện lần này dễ gợi cho nhiều người nhớ lại những lần thay đổi liên tiếp trước đây về giấy tờ tùy thân. Từ chứng minh nhân dân đến căn cước công dân, rồi đến thẻ căn cước, mỗi lần điều chỉnh đều có lý lẽ quản lý riêng. Nhưng đứng từ góc độ người dân, điều họ mong mỏi nhất vẫn là sự ổn định, dễ hiểu và đủ bền, ít tốn thời gian và tiền bạc để họ không phải liên tục chạy theo những phiên bản mới của cùng một thủ tục. Chuyện công chứng lần này tuy là một mảnh ghép nhỏ, nhưng lại chạm tới chính nhu cầu đó, tức là khi đã thêm một yêu cầu cho dân thì nên cân nhắc thật kỹ; khi muốn bỏ nó đi thì cũng cần giải thích thật rõ. Có như vậy, cải cách mới tạo cảm giác hệ thống đang tiến về phía hợp lý hơn, chứ không chỉ là đổi cách làm rồi sau đó lại đổi tiếp.

Xét cho cùng, mục tiêu chắc chắn là không có gì khác nhau. Ai cũng muốn hoạt động công chứng vừa an toàn, vừa thuận tiện, vừa phù hợp với điều kiện số hóa, vừa tôn trọng dữ liệu cá nhân của người dân. Công nghệ mới nên được sử dụng để giải phóng người dân khỏi những thao tác không cần thiết, chứ không phải chỉ thay một lớp hình thức này bằng một lớp hình thức khác nghe hiện đại hơn. Và có lẽ câu hỏi nên để ngỏ không chỉ là có nên giữ hay bỏ một tấm ảnh trong hồ sơ công chứng, mà là làm sao để mỗi lần sửa luật sau này đều khiến người dân cảm thấy yên tâm hơn rằng hệ thống đang dần ổn định, thận trọng và tôn trọng quyền của họ hơn, thay vì chỉ khéo léo đổi một thủ tục cũ lấy một cách quản lý mới.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Khi hoa bị ép phải gánh quá nhiều nhiệm vụ

 

Khi hoa bị ép phải gánh quá nhiều nhiệm vụ

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Tôi không ghét hoa. Ngược lại, tôi luôn nghĩ hoa là một trong những phát minh dịu dàng nhất của cuộc đời. Một bó hoa nhỏ có thể làm sáng một căn phòng. Một cành hoa đặt đúng chỗ có thể thay cho nhiều lời muốn nói. Hoa có khả năng đi vào những khoảnh khắc rất khác nhau của con người, từ niềm vui đến nỗi buồn, từ khởi đầu đến kết thúc. Nhưng cũng vì thế, tôi ngày càng thấy tiếc khi hoa đang bị kéo vào quá nhiều cuộc trình diễn xã hội, đến mức dần mất đi sự tinh tế vốn có.



Bây giờ, đi dự sinh nhật, khai trương, hội nghị, lễ kỷ niệm hay một đám tang, rất dễ gặp cảnh hoa xuất hiện dày đặc. Sinh nhật, khai trương, kỷ niệm thành lập, lên chức, ra mắt sách, hội thảo, đám tang đều phải có hoa. Có những nơi hoa nhiều đến mức người ta phải xếp tràn ra cả lối đi, hành lang, sân trước, vỉa hè. Người đến sau không biết nhìn chủ nhân ở đâu vì trước mặt toàn là những tầng hoa, kệ hoa, vòng hoa, cổng hoa, phông hoa. Có cảm giác như trong nhiều dịp, hoa không còn là điểm nhấn mà trở thành một thứ phải có, càng nhiều càng tốt, càng lớn càng đẹp, càng đắt càng chứng minh được mức độ quan tâm. Đó chính là lúc hoa bắt đầu mất giá.

Một món quà thường đẹp vì nó có chừng mực. Cái đẹp của hoa vốn nằm ở sự vừa phải, ở độ mong manh, ở chỗ gợi cảm xúc chứ không đè cảm xúc xuống. Nhưng khi hoa bị chất lên thành từng lớp, từng tầng, bị buộc đại diện cho vị thế, sĩ diện, mạng lưới quan hệ, năng lực chi trả, thì hoa không còn là hoa nữa mà trở thành một đạo cụ của xã giao.

Trong nhiều dịp, người gửi hoa không thật sự cân nhắc người nhận thích gì, cần gì, hay có phù hợp không. Họ chỉ biết rằng, trong hoàn cảnh này thì “phải gửi hoa”. Một lẵng lớn hay một kệ cao không còn phản ánh gu thẩm mỹ hay sự tinh tế của người gửi, mà phản ánh một nỗi lo rất đời thường: sợ mình gửi ít quá thì bị xem là không đủ nhiệt tình, sợ không có tên mình thì bị cho là sơ suất, sợ người khác gửi to hơn thì mình thành mờ nhạt. Khi tâm lý ấy lan rộng, việc tặng hoa không còn xuất phát từ cảm xúc mà từ áp lực. Mà áp lực thì thường không sinh ra cái đẹp mà tạo ra thói quen làm cho xong.

Sự lãng phí nằm ở chỗ ai cũng thấy nhưng ít ai muốn nói. Người nhận nhiều khi ngại vì họ biết số hoa ấy sẽ không để được lâu và sẽ bị tháo dỡ rồi dọn đi. Nhưng họ phải mỉm cười chụp ảnh, sắp xếp chỗ ngồi, tỏ ra trân trọng vì đó là tình cảm của người khác. Người gửi cũng không phải không hiểu rằng hoa rất ngắn ngày; họ biết món quà này phần nhiều chỉ để xuất hiện một lúc rồi biến mất. Nhưng vì thông lệ xã hội, họ cứ tiếp tục. Thế là mọi người cùng tham gia vào một nghi thức mà trong lòng không hẳn ai cũng tin là hợp lý.

Có những cảnh rất đáng suy nghĩ. Một buổi khai trương văn phòng hay cửa hàng buổi sáng còn ngập tràn những kệ hoa rực rỡ, lời chúc treo đỏ cả một mặt tiền. Đến chiều, nhân viên bắt đầu kéo bớt ra ngoài vì lối đi chật. Tối đến, nhiều bó hoa gục đầu xuống, giấy gói nhàu đi, nơ rũ ra, nước từ xốp cắm hoa nhỏ xuống sàn. Hôm sau, người ta tháo khung sắt, bóc bảng tên, gom những hoa đã héo lại thành một đống. Từ biểu tượng chúc mừng, hoa rất nhanh trở thành vật cản rồi thành rác. Nếu nhìn kỹ cảnh ấy, sẽ thấy sự phù phiếm của nó khá lạnh lùng. Một vật vốn tượng trưng cho vẻ đẹp và sự sống lại được đối xử như món hàng tiêu dùng dùng một lần, giá càng cao thì khoảnh khắc tiếc nuối khi vứt đi càng lớn.

Ở đám tang, cảm giác ấy còn buồn hơn. Hoa vốn là biểu tượng của sự tưởng niệm. Một vòng hoa giản dị, màu sắc nhã nhặn, cách hiện diện vừa đủ có thể nói thay cho nhiều điều. Nhưng khi đám tang biến thành nơi tập kết hàng chục, hàng trăm vòng hoa, ý nghĩa an ủi bắt đầu mỏng dần. Gia đình người mất đang rối bời tinh thần, lại phải lo thêm việc xếp hoa, lối đi, dựng và dọn dẹp. Nỗi buồn chưa kịp lắng xuống thì phải xử lý hậu quả. Nhiều vòng hoa đến đó không phải vì mối liên hệ sâu đậm với người đã khuất, mà vì phép xã giao của cơ quan, tổ chức, quan hệ làm ăn. Không phải là không thành ý, nhưng thành ý đã bị pha loãng trong một nghi thức tập thể quá nặng về hình thức.

Có người bảo rằng đừng quá khắt khe, vì hoa là một phần của văn hóa ứng xử. Điều đó đúng vì không ai phủ nhận rằng hoa có vị trí quan trọng trong đời sống. Cũng không ai nên cực đoan đến mức đòi loại bỏ hoa khỏi những dịp vui buồn. Vấn đề không phải là có nên tặng hoa hay không, mà là chúng ta đang dùng hoa đến mức nào, theo cách nào và vì động cơ gì. Một bó hoa nhỏ nhưng được chọn kỹ vẫn có giá trị hơn một kệ hoa khổng lồ được đặt vội cho đủ thủ tục. Một chậu cây sống lâu có thể tồn tại lâu hơn sau sự kiện, đôi khi có ý nghĩa hơn cả một mảng tường hoa sẽ héo sau 1 ngày. Một lời chia buồn chân thành, một khoản tiền phúng viếng kín đáo, một sự có mặt đúng lúc nhiều khi an ủi hơn cả chục vòng hoa dựng đầy lối.

Nhưng xã hội càng hiện đại thì dường như hoa càng bị đẩy sang hướng phô trương. Chúng ta không chỉ thích nhiều hoa mà còn thích hoa thật đắt. Không ít người bây giờ vẫn sính hoa ngoại nhập; càng quý hiếm, càng không đụng hàng thì càng sang. Có những lẵng hoa trị giá bằng cả tháng lương của một nhân viên văn phòng, nhưng tuổi thọ của chúng chỉ tính bằng ngày. Cái buồn cười là nhiều người trân trọng nó chủ yếu vì nó đắt, vì nó ngoại, vì nó chứng minh người gửi “chịu chơi”, chứ không hẳn vì nó đẹp hay giàu cảm xúc hơn.

Sính hoa ngoại còn cho thấy một lớp tâm lý khác. Đó là nhu cầu tiêu dùng mang tính biểu tượng nhằm khẳng định đẳng cấp. Khi một loài hoa trong nước không còn đủ để gây ấn tượng, người ta tìm đến hoa nhập khẩu. Khi một bó hoa phổ biến không còn thể hiện được mức độ đầu tư, người ta săn những loại khó kiếm hơn, đắt hơn, bay xa hơn. Hoa lúc đó không còn là sứ giả của cảm xúc mà trở thành tấm biển nhỏ treo lên để nói về túi tiền và vị thế của người mua. Cái đẹp bị trượt sang một cuộc đua khác, nơi giá cả bắt đầu lấn át ý nghĩa. Và điều đáng nói là trong một đất nước còn rất nhiều nhu cầu thiết thực chưa được đáp ứng tốt, việc xã hội quen tay chi những khoản lớn cho những cấu trúc hoa ngắn ngày không thể không khiến người ta chạnh lòng.

Bên dưới những lẵng hoa rực rỡ ấy là cả một chuỗi tài nguyên bị tiêu hao. Đó là đất trồng, nước tưới, phân bón, điện bảo quản lạnh, xăng dầu vận chuyển, vật liệu đóng gói, khung sắt, xốp cắm hoa, dây buộc, nilon, giấy bọc, nhân công cắt cành, phối màu, thiết kế, giao nhận. Với hoa nhập còn có thêm chi phí hậu cần, bảo quản, vận chuyển đường dài, đôi khi bằng máy bay. Tất cả chỉ để đổi lấy sự hiện diện rất ngắn. Khi việc này diễn ra với quy mô lớn, lặp đi lặp lại qua vô số sự kiện, thì đây không còn là sở thích cá nhân nữa mà là một thói quen tiêu dùng đáng suy nghĩ.

Tất nhiên, phải nói rằng ngành hoa cũng tạo ra sinh kế cho nhiều người. Người trồng hoa, người cắm hoa, người vận chuyển, người bán lẻ đều sống nhờ thị trường ấy. Nhưng lập luận này không thể dùng để biện minh cho mọi mức độ lãng phí. Một nền kinh tế khỏe mạnh không nên dựa vào việc khuyến khích xã hội tiêu hao vô tội vạ những thứ chỉ dùng được trong thời gian ngắn và ít giá trị sử dụng dài hạn. Việc bảo vệ sinh kế cho người làm nghề không nhất thiết đồng nghĩa với việc tiếp tục cổ vũ cho những nghi thức hoa ngày càng quá tay. Một thị trường hoa lành mạnh hơn có thể đi theo hướng tinh tế , bền vững và ít khoa trương hơn, thay vì cứ phình ra về kích thước và giá tiền.

Có lẽ điều đáng lo nhất không phải là số tiền bỏ ra, mà là sự chai lì trong cảm xúc. Khi cái gì cũng tặng hoa, hoa dần không còn nói được điều gì riêng. Sinh nhật, khai trương, đám tang  hay hội nghị nào cũng có hoa; cuối cùng, người ta chỉ còn nhìn hoa như một phần của phông nền. Một thứ từng rất đẹp và giàu tính biểu tượng lại bị dùng quá nhiều đến mức mòn nghĩa. Đó là kiểu mất mát âm thầm. Xã hội càng giàu hơn chưa chắc đã tinh tế hơn, nếu cái gì cũng phải phóng to lên mới thấy mình đủ thành ý.

Thay đổi chuyện này không dễ, vì nó nằm trong vùng rất nhạy cảm của quan hệ xã hội. Người ta sợ bị cho là keo kiệt, sợ bị nói là làm mất vui, sợ bị hiểu lầm là không coi trọng đối tác hay bạn bè. Nhưng chính vì ai cũng sợ nên vòng quay ấy mới kéo dài. Chúng ta đang cùng tuân theo một luật lệ bất thành văn mà nhiều người đã thấy mệt mỏi. Có lẽ đến lúc một số người bắt đầu nói ra một cách lịch sự. Sinh nhật, có thể ghi rõ xin nhận lời chúc thay hoa. Khai trương, có thể đề nghị bạn bè hạn chế kệ hoa lớn. Đám tang có thể xin miễn vòng hoa, chỉ nhận tưởng niệm trang nhã. Một khi ngày càng nhiều người làm thế, xã hội sẽ dần điều chỉnh. Điều được điều chỉnh ở đây không chỉ là chi tiêu mà còn là cách hiểu về sự trân trọng.

Một xã hội văn minh không đo thành ý bằng chiều cao của kệ hoa, không đo nỗi buồn bằng số vòng hoa dựng kín sân, không đo mức độ thân tình bằng giá của một giống hoa ngoại được bay nửa vòng Trái Đất về rồi héo trong 2 ngày. Xã hội ấy sẽ biết dành chỗ cho cái đẹp, nhưng không ép cái đẹp phải gánh thay sĩ diện. Xã hội ấy sẽ hiểu rằng sự tinh tế đôi khi nằm ở chỗ bớt đi chứ không phải thêm vào.

Tôi vẫn tin hoa xứng đáng được đối xử tốt hơn. Hoa không nên bị kéo vào mọi dịp chỉ để làm đủ thủ tục. Hoa càng không nên bị biến thành công cụ cho một cuộc đua ngầm về độ chịu chi vì một bó hoa đúng lúc vẫn là một niềm vui, một vòng hoa vừa phải vẫn là một lời tiễn biệt đẹp. Nhưng có lẽ chúng ta nên dừng lại trước khi biến hoa thành thứ bị tiêu dùng đến mức mất đi thiêng, mất đi quý, mất cả lý do để hiện diện.

Rốt cuộc, trong những dịp quan trọng của đời người, thứ ở lại lâu hơn chính là màu sắc của lẵng hoa hay cảm giác mình đã được đối xử chân thành? Câu hỏi ấy tưởng nhỏ mà không hề nhỏ. Vì nếu trả lời nghiêm túc, có thể chúng ta sẽ phải thay đổi không chỉ cách tặng hoa mà còn cách chúng ta đối xử với những biểu tượng đẹp trong đời sống. Biết đâu, khi hoa xuất hiện ít hơn, nó lại được yêu hơn, được nhớ hơn và được tôn trọng đúng như điều mà nó vốn xứng đáng.

Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều. 

 

Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn

  Khi người cũ trở lại sau nhiều năm ly hôn (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners) Có những cuộc ly hôn không kế...