Khi chất xám chuyển hướng sang châu
Á, Việt Nam còn giữ họ bằng gì?
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty
luật Phuoc & Partners)
Có những
buổi sáng đọc tin mạng mà lòng tự dưng chùng xuống, không phải vì bất ngờ, mà
vì cảm giác như đã đoán trước từ lâu, chỉ là đến ngày sự thật tự bước ra trước
mặt, nhìn mình nhưng không nói gì. Cuối tháng 1 rồi sang đầu tháng 2 năm 2026,
ba mẩu tin xuất hiện liên tiếp, tưởng rời rạc nhưng đặt cạnh nhau thì giống ba
nhát cắt gọn gàng vào một câu hỏi mà Việt Nam đã mang theo nhiều năm đó là vì
sao ta nói nhiều về nhân tài, nhưng lại khó giữ nhân tài ở lại, khó kéo nhân
tài quay về, và càng khó hơn để họ dám đứng mũi chịu sào.
Giáo sư Vũ
Hà Văn rời Yale để gia nhập Đại học Hong Kong, ngôi trường được QS xếp hạng số 1
ở châu Á năm 2026. Giáo sư Ngô Bảo Châu rời Đại học Chicago sau 15 năm làm việc,
cũng sang Hồng Kông và nói thẳng rằng mức mời về tài chính không thua kém Mỹ,
còn môi trường khoa học ở đó đang được đầu tư quyết liệt để vươn tầm. Trong nước,
một lãnh đạo ngành khoa học thừa nhận rằng dù cơ chế đã mở, vẫn chưa có nhà
khoa học Việt Nam nào chủ động ứng cử làm tổng công trình sư cho các đề án lớn,
bởi nhiều người vẫn lo ngại về trách nhiệm và rủi ro.
Tôi đọc ba
mẫu tin này, và điều làm tôi trăn trở nhất không phải là chuyện đi hay ở. Người
giỏi có quyền chọn nơi họ làm việc là lẽ thường của thế giới hiện đại vì đó là
quyền tự do nghề nghiệp. Điều khiến lòng tôi nặng hơn là cảm giác chất xám của
người Việt không “chảy” theo hướng mà ta mong đợi. Nó không đơn giản chảy từ Việt
Nam sang Mỹ như câu chuyện cũ, mà đang đổi hướng ngay trong châu Á, sang những
nơi hiểu rất rõ họ đang làm gì trong cuộc đua nhân tài, và sẵn sàng trả giá để
chiến thắng.
Chất xám
bây giờ không chảy như nước tràn bờ; nó di chuyển như dữ liệu. Dữ liệu không có
cảm xúc, nó chọn đường đi có băng thông lớn, độ trễ thấp, ít nhiễu, ít rớt mạng,
ít bị hỏi đi hỏi lại cùng một câu, ít bị gián đoạn bởi những việc không liên
quan đến mục tiêu. Nhân tài cũng vậy. Họ vẫn có tình cảm, vẫn có ký ức, vẫn có
tình hoài hương, nhưng khi đứng trước một hệ thống cho phép họ tập trung vào điều
họ giỏi nhất, được trao nguồn lực đúng lúc, được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp,
và được bảo vệ khỏi những rủi ro không tương xứng, họ sẽ chọn. Sự lựa chọn ấy
đôi khi rất lạnh, nhưng không phải là vô ơn. Nó chỉ là một logic nghề nghiệp.
Điều đáng
nói là ngay cả khi chọn Hong Kong, người giỏi vẫn nói về Việt Nam bằng một giọng
rất mềm. Có người nói muốn ở gần gia đình hơn, muốn tham gia sâu hơn vào việc
đào tạo thế hệ trẻ yêu toán ở Việt Nam, và muốn về thường xuyên hơn để tổ chức hội
thảo, câu lạc bộ, và tạo mạng lưới nghiên cứu. Tôi luôn tin vào những lời ấy, bởi
không ai phải nói nếu không muốn, và càng không ai cần nói nếu họ chỉ quan tâm
đến sự nghiệp cá nhân. Nhưng chính vì lời ấy thật, ta càng thấy rõ một nghịch
lý: tình cảm vẫn còn, ý chí đóng góp vẫn còn, nhưng “địa chỉ nghề nghiệp” lại ở
nơi khác. Đó là phần đau nhất của câu chuyện, vì nó nhắc ta rằng chỉ tình cảm thôi
không đủ để biến một khao khát thành một lựa chọn nghề nghiệp dài hạn.
Và nếu chỉ
nhìn những cái tên ở đỉnh, ta có thể tự an ủi rằng đó là chuyện đặc biệt, chuyện
của những người ở tầng cao nhất. Nhưng trăn trở thật sự nằm ở dòng chảy rộng
hơn và âm thầm hơn. Việt Nam không chỉ mất người giỏi ở đỉnh mà còn mất người
giỏi ở sườn và chân của ngọn núi, những người trẻ đi học nước ngoài rồi không
trở về, hoặc trở về một thời gian rồi lại ra đi, vì họ không thấy một con đường
chạy đủ dài, đủ rộng, đủ công bằng để họ dồn sức mà không phải vừa chạy vừa né.
Có người
nói rằng việc nhiều người đi du học tự túc rồi quyết định ở lại là lựa chọn cá
nhân, không ai có quyền bắt họ phải quay về. Điều đó đúng, nhưng chính vì đúng,
ta càng phải chấp nhận rằng đây là một thị trường cạnh tranh nhân tài toàn cầu,
nơi quốc gia nào muốn có người giỏi thì phải biết tạo điều kiện để họ muốn đến
và ở lại. Không thể thắng bằng lời kêu gọi đạo đức, cũng không thể thắng bằng
việc trách móc vì sao không về. Người trẻ không chống lại quê hương, họ chỉ
đang cố gắng sống một đời có ý nghĩa và có tương lai. Và nếu ở một nơi khác,
tương lai rõ ràng hơn, họ sẽ đi theo tương lai ấy.
Tôi từng gặp
nhiều người Việt kiều, nhiều du học sinh về nước với tâm trạng rất đẹp, như
mang một ngọn lửa nhỏ về thắp sáng căn phòng. Họ hào hứng vì thấy mình có thể
đóng góp. Họ tin rằng kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm của họ sẽ hữu ích.
Nhưng rồi, một số người lặng lẽ rời đi, không phải vì họ thiếu kiên trì, mà vì
họ thấy hệ thống tiếp nhận ở nhà đôi khi giống như một chiếc cửa xoay. Bạn bước
vào, xoay được một vòng, tưởng đã vào trong, nhưng gió và lực của cánh cửa lại
đẩy bạn ra. Bạn không bị ai đuổi, nhưng bạn không vào được.
Có những
trường hợp rất cụ thể, từng gây tranh luận, để thấy chiếc cửa xoay ấy vận hành như
thế nào. Trường hợp một Giáo sư Việt kiều có tiếng về Việt Nam làm quản lý đại
học rồi sau đó rời đi vì những vướng mắc tiêu chuẩn, thủ tục, cơ chế bổ nhiệm từng
khiến dư luận băn khoăn nhiều năm. Dù mỗi người có thể nhìn câu chuyện ấy từ một
góc khác nhau, khó phủ nhận rằng khi hệ thống đặt ra những điều kiện “đúng quy
định” nhưng không đủ linh hoạt để tiếp nhận một năng lực khác biệt, thì kết quả
thường là mất người. Không ai hoàn toàn sai, nhưng rốt cuộc, đất nước vẫn bị thiệt
hại. Nơi nào khiến người giỏi phải tiêu hao quá nhiều năng lượng vào những thứ
ngoài chuyên môn, nơi đó khó giữ người tài.
Tôi nghĩ, điều
làm người ta ngại nhất không phải là thiếu tiền, vì nhiều người giỏi không đòi
phải giàu; họ chỉ đòi được sống đàng hoàng bằng nghề. Cái làm người ta ngại hơn
là cảm giác rủi ro không được phân bổ công bằng. Trong khoa học và công nghệ, rủi
ro chuyên môn là điều tất yếu. Không ai nghiên cứu mà chắc chắn sẽ thành công.
Không ai làm đổi mới mà không có khả năng mắc sai sót. Nhưng nếu rủi ro chuyên
môn bị biến thành rủi ro pháp lý, thanh tra, giải trình theo cách có thể khiến
họ mất danh dự, mất sự nghiệp, thậm chí đối mặt với hệ quả nghiêm trọng dù họ
làm đúng quy trình và không có động cơ tư lợi, thì phản xạ tự nhiên của người
giỏi là tránh đứng ở tuyến đầu. Không phải vì họ hèn đâu, mà vì họ tỉnh táo.
Bởi vậy,
câu chuyện trong nước về việc chưa có ai chủ động ứng cử làm tổng công trình sư
cho các đề án lớn, theo tôi, không nên hiểu là thiếu người giỏi hay thiếu lòng
tin. Nó giống như một bài toán bảo hiểm. Người ta hỏi thầm rằng nếu tôi nhận lời,
tôi có được trao quyền thật không, hay chỉ là danh nghĩa. Nếu tôi làm đúng quy
trình mà thất bại vì khoa học vốn có thể thất bại, ai sẽ bảo vệ tôi. Nếu tôi phải
ký vào những quyết định mua sắm thiết bị, thuê chuyên gia, chọn đối tác, ký hợp
đồng, và nếu sau này người khác nhìn bằng một thước đo khác rồi nói tôi sai,
tôi có một vùng đệm an toàn nào không.
Việt Nam
đã bắt đầu hình thành tư duy bảo vệ những người dám nghĩ dám làm trong khu vực
công. Nhưng tôi vẫn trăn trở vì cơ chế bảo vệ ấy hiện nay còn hẹp, chủ yếu áp dụng
cho cán bộ, công chức trong một số bối cảnh đặc thù. Trong khi các dự án khoa học
công nghệ lớn lại là hệ sinh thái lai. Có nhà nước, có trường đại học, có viện
nghiên cứu, có doanh nghiệp, có đối tác quốc tế, có mua sắm, có tài sản công,
có lợi ích đan xen, có hàng loạt điểm chạm mà chỉ cần thiếu rõ ràng là rủi ro sẽ
phình ra. Nếu lá chắn mới chỉ che được một nhóm hẹp, còn người tiên phong trong
các dự án trọng điểm vẫn phải bước giữa trời mưa rủi ro, thì lời mời đứng mũi
chịu sào vẫn sẽ khiến người ta chùn chân. Lúc ấy, việc không ai ứng cử không
còn là chuyện khó hiểu, nó là chuyện bình thường.
Từ đây,
nhìn sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ta sẽ thấy họ có thể khác nhau về chế
độ, văn hóa, cách vận hành, nhưng họ giống nhau ở một điểm: họ xem thu hút nhân
tài là một cuộc đua chính sách thật sự, không chỉ là một bài phát biểu. Trung
Quốc có những chương trình thu hút nhân tài với gói đãi ngộ mạnh, đi kèm nguồn
lực để lập nhóm nghiên cứu, và quan trọng là tốc độ ra quyết định đủ nhanh để
người giỏi không bị mất nhịp. Hàn Quốc tạo nhiều cánh cửa linh hoạt, mời người
giỏi về theo dự án, thời hạn, nhóm, để hình thành mạng lưới hợp tác, không bắt
buộc ai phải lựa chọn một lần cho cả đời. Nhật Bản đầu tư dài hạn vào các trung
tâm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, tạo môi trường quốc tế hóa, xây dựng hệ thống
hỗ trợ và đánh giá theo chuẩn học thuật, để người giỏi đến rồi thấy mình đang ở
đúng chỗ.
Tôi không
nghĩ Việt Nam nên sao chụp mô hình nào, vì mỗi nước có bối cảnh riêng. Nhưng Việt
Nam có thể học một điều rất căn bản: muốn kéo người giỏi về và giữ họ ở lại thì
phải biến lời mời thành một cấu trúc. Cấu trúc ấy phải có tiền, nhưng tiền
không nhất thiết phải trả cao đồng loạt mà có thể trả cao ở từng điểm chạm. Cấu
trúc ấy phải có quyền, và quyền phải là quyền thật, từ tuyển người, chọn đối
tác, định hướng nghiên cứu, đến quyền tự chủ học thuật. Cấu trúc ấy phải bớt
phiền, nghĩa là giảm các thủ tục không cần thiết, tăng năng lực hành chính hỗ
trợ, và đặc biệt là làm cho mọi thứ minh bạch, rõ ràng, và đo được.
Quan trọng
hơn cả, Việt Nam cần một vùng an toàn pháp lý dành riêng cho đổi mới sáng tạo.
Tôi nói vùng an toàn không phải để xin đặc quyền cho ai, càng không phải để hợp
pháp hóa việc làm sai. Vùng an toàn chỉ nên bảo vệ người làm đúng, bảo vệ tính
liêm chính của khoa học. Nếu người đứng mũi chịu sào minh bạch về xung đột lợi
ích, tuân thủ quy trình, công khai dữ liệu, chịu đánh giá độc lập, không có động
cơ tư lợi, thì thất bại khoa học phải được xem là rủi ro được phép. Ngược lại,
nếu gian lận, trục lợi, hoặc cố tình làm sai, thì phải xử nghiêm hơn bình thường,
vì người tiên phong mà làm bậy thì thiệt hại còn lớn hơn.
Cũng có
người nói rằng nếu nói “miễn trách nhiệm” thì sẽ biến thành “miễn kỷ luật”, rồi
sẽ có vùng tối. Nỗi lo đó không vô lý, nhưng chính vì vậy, vùng an toàn phải đi
kèm với kỷ luật quản trị hiện đại. Mục tiêu rõ ràng, mốc kiểm tra định kỳ, hội
đồng đánh giá độc lập đủ năng lực, cơ chế công khai kết quả, và phân loại rủi
ro một cách khoa học. Ta phải tách rõ thất bại khoa học trong phạm vi cho phép,
sai sót quản trị có thể khắc phục, và hành vi gian lận trục lợi. Khi tách đúng
ba lớp ấy, ta vừa bảo vệ được người dấn thân, vừa không tạo ra đặc quyền, và
cũng không biến nó thành một trò chơi may rủi.
Cũng có ý
kiến khác cho rằng ngân sách còn hạn chế, tiền đâu để làm những việc này. Tôi
nghĩ câu trả lời không nằm ở việc hứa chi thật nhiều, mà nằm ở việc chi đúng.
Không nhất thiết phải trả lương đỉnh cho mọi người, nhưng phải dám tập trung
vào một số điểm nút có hiệu ứng lan tỏa, như các nhóm nghiên cứu lõi, các phòng
thí nghiệm trọng điểm, và các dự án quốc gia có đầu ra rõ ràng. Quan trọng hơn,
phải đầu tư vào hạ tầng mềm: quy trình mua sắm thiết bị minh bạch và nhanh
chóng, quyền tuyển trợ lý nghiên cứu, cơ chế hợp tác quốc tế thông suốt, và đội
ngũ hành chính chuyên nghiệp để nhà khoa học không phải dùng thời gian của họ
đi xin chữ ký. Nhiều khi, bớt phiền còn rẻ hơn tăng lương, nhưng tác dụng lại lớn
hơn, vì nó trả lại cho người giỏi thứ quý nhất: thời gian và sự tập trung.
Cũng có
người lo rằng việc thu hút người giỏi nước ngoài về sẽ khiến người trong nước nản
lòng, tạo cảm giác bất công. Nỗi lo ấy chỉ đúng nếu tuyển chọn mờ ám, ưu đãi
theo quan hệ, kết quả không công khai. Nhưng nếu chuẩn tuyển chọn rõ ràng, cạnh
tranh mở, quyền lợi gắn với trách nhiệm và kết quả, thì người trong nước sẽ
không bị đè, mà còn được nâng trần. Người giỏi từ nước ngoài về không phải để
thay thế, mà để tạo chuẩn, tạo mạng lưới, tạo cơ hội học hỏi và tạo một môi trường
mà người trong nước cũng muốn lớn lên trong đó.
Tôi muốn kết
bài bằng một hình ảnh nhỏ, vì đôi khi những điều lớn lao nhất lại bắt đầu từ một
câu hỏi rất trẻ. Hãy tưởng tượng một sinh viên Việt Nam mê Toán, ở một căn phòng
trọ nhỏ, học bằng sách và video, mơ ước một ngày nào đó được làm việc trong một
nhóm nghiên cứu mạnh. Em đọc tin hai giáo sư người Việt nổi tiếng bậc nhất thế
giới cùng hội tụ ở một trường đại học châu Á, không xa Việt Nam. Em vui vì thấy
người Việt vẫn có người đứng ở tuyến đầu. Nhưng ngay sau niềm vui ấy là một câu
hỏi bật ra, không trách ai, chỉ buồn một chút. Vì sao không phải ở Hà Nội hay
Sài Gòn. Vì sao những ngọn hải đăng của người Việt lại sáng ở một bến khác, còn
bến nhà thì vẫn tối hơn một chút?
Và câu hỏi
mở cuối, tôi xin để lại trong tâm thế trăn trở ấy. Khi Việt Nam bước vào cuộc
đua khoa học công nghệ của thập kỷ vươn mình, chúng ta muốn người giỏi bước lên
làm tổng công trình sư vì khát vọng sáng tạo và niềm tin rằng họ sẽ được trao
quyền, được bảo vệ đúng cách, được đánh giá công bằng, hay chúng ta chấp nhận việc
họ sẽ tiếp tục chọn một bến đỗ khác ngay trong lòng châu Á, nơi hợp đồng rõ
ràng hơn và giấc mơ ít bị làm phiền hơn, rồi tự an ủi nhau rằng đó là chuyện
bình thường của thời hội nhập, trong khi điều bình thường ấy đang lặng lẽ rút
khỏi tay ta tương lai của chính mình không?
Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.