Gia đình không phải là đạo cụ
(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty
luật Phuoc & Partners)
Trong một
hợp đồng quảng cáo giữa công ty quảng cáo và người nổi tiếng, thứ được mua đôi
khi không chỉ là gương mặt, giọng nói hay danh tiếng của họ, mà còn là bữa cơm
phía sau, đứa trẻ chạy ngang khung hình, bà mẹ già ngồi ở góc nhà. Sản phẩm nhờ
thế bớt giống sản phẩm, còn công chúng có cảm giác như mình đang được xem đời
thật, không phải một sân khấu đã dàn dựng.
Nhưng kinh
nghiệm nhiều năm làm luật sư khiến tôi nhìn những cảnh ấm áp ấy bằng một câu hỏi
khô khan hơn: khi đời thật trở thành tài sản thương mại, ai có quyền ký vào tài
sản đó?
Người nổi
tiếng dĩ nhiên có quyền kể về cuộc sống của mình. Một tấm ảnh gia đình, một
chuyến đi, một khoảnh khắc con chào đời không tự nó là vấn đề. Vấn đề chỉ bắt đầu
khi những khoảnh khắc ấy không còn là sự chia sẻ tự nhiên mà trở thành mô hình
kiếm tiền, được tài trợ, gắn quảng cáo, và đo lường bằng lượt xem và doanh thu.
Ranh giới
giữa “tôi khoe gia đình vì tôi hạnh phúc” và “tôi cần gia đình xuất hiện để duy
trì tương tác” rất mong manh. Một đứa trẻ vô tình lọt vào khung hình có thể dần
trở thành nhân vật quen thuộc của kênh. Người vợ hoặc chồng góp mặt trong vài
câu chuyện vui có thể dần trở thành bằng chứng cho hình ảnh “gia đình tử tế” mà
thương hiệu cá nhân cần duy trì. Một người mẹ già được con khoe vì thương có thể
rồi xuất hiện đều đặn trong các video cảm động có quảng cáo.
Tôi gọi
hiện tượng này là “gia đình hóa đời tư để kiếm tiền”.
Dưới góc
nhìn pháp lý, đây không chỉ là chuyện văn hóa mạng. Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015
quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; việc sử dụng hình ảnh cá
nhân phải được người đó đồng ý; nếu sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích
thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ khi các bên có thỏa
thuận khác. Nếu hình ảnh vợ, chồng, cha mẹ hoặc con cái được đưa vào nội dung
có doanh thu, câu hỏi không còn là “người nhà với nhau mà”, mà là người có hình
ảnh đã đồng ý trong phạm vi, thời hạn và trên nền tảng nào và có được hưởng lợi
ích nào không.
Điều 38 Bộ
luật Dân sự 2015 quy định rằng đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia
đình là bất khả xâm phạm; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin
liên quan đến đời sống riêng tư phải được người đó đồng ý, còn thông tin liên
quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý. Vì vậy, chuyện
bệnh tật của mẹ, mâu thuẫn vợ chồng, điểm số của con, địa chỉ trường lớp, cảnh
con khóc hay phút yếu lòng của người thân không thể trở thành chất liệu nội
dung tùy tiện chỉ vì chúng xảy ra trong nhà.
Lỗ hổng lớn
nhất nằm ở chỗ trong gia đình, sự đồng ý thường không thật sự ngang hàng. Một
người mẹ già khó tính nổi tiếng với câu nói: “Mẹ không muốn lên video”. Một người
vợ có thể đồng ý xuất hiện khi hôn nhân còn êm ấm, nhưng sau ly hôn lại bị mắc
kẹt trong hàng trăm clip cũ. Một đứa trẻ càng khó hiểu rằng nụ cười hôm nay của
mình có thể trở thành dữ liệu, doanh thu, hồ sơ tìm kiếm và ký ức công cộng của
ngày mai.
Với trẻ
em, vấn đề còn nhạy hơn vì cha mẹ vừa là người thương yêu, vừa là người đại diện
theo pháp luật, và đôi khi lại chính là người hưởng lợi từ việc đưa con lên mạng.
Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật
của con chưa thành niên; nhưng Điều 141 đặt ra nguyên tắc người đại diện phải
xác lập và thực hiện giao dịch vì lợi ích của người được đại diện. Khi cha mẹ
ký hợp đồng quảng cáo mà hình ảnh của con là yếu tố tạo doanh thu, lợi ích của
cha mẹ và lợi ích độc lập của đứa trẻ có thể không còn trùng lặp.
Luật Trẻ
em 2016 đã có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn. Điều 21 quy định trẻ em có quyền bất
khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích
tốt nhất của trẻ em; trẻ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và được chống lại
sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư. Khoản 11 Điều 6 còn cấm
công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà
không có sự đồng ý của trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ hoặc người giám
hộ.
Luật Bảo vệ
dữ liệu cá nhân 2025 tiếp tục đi xa hơn khi tại Điều 24 quy định việc xử lý dữ
liệu cá nhân của trẻ em nhằm công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân của trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của trẻ và người
đại diện theo pháp luật. Nhưng nếu cha mẹ là người đại diện, đồng thời là người
làm nội dung, người nhận tài trợ và người quản lý doanh thu, ai sẽ kiểm tra việc
trẻ có thật sự tự do khi đồng ý không? Một đứa trẻ 7 tuổi có thể nói “con không
thích”, nhưng liệu có dám nói như vậy khi máy quay đã bật và hợp đồng đã ký?
Không nên
né tránh yếu tố tiền. Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 yêu cầu cha mẹ tôn
trọng ý kiến của con, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên,
đồng thời không được lạm dụng sức lao động của con. Điều 75 quy định con có quyền
có tài sản riêng, trong đó có thu nhập do lao động và thu nhập hợp pháp khác.
Điều 76 quy định tài sản riêng của con dưới 15 tuổi do cha mẹ quản lý; Điều 77
yêu cầu việc định đoạt tài sản đó phải vì lợi ích của con. Nếu một đứa trẻ xuất
hiện thường xuyên trong nội dung kiếm tiền, rất khó nói rằng toàn bộ doanh thu
mặc nhiên thuộc về cha mẹ chỉ vì trẻ “còn nhỏ” hoặc “đó là con tôi”.
Nhãn hàng
và nền tảng cũng không nên đứng ngoài bằng câu nói “đó là chuyện riêng của gia
đình người nổi tiếng”. Khoản 3 Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2023 buộc người có ảnh hưởng phải thông báo trước cho người tiêu dùng về việc
mình được tài trợ. Luật Quảng cáo sửa đổi năm 2025 bổ sung Điều 15a, đặt nghĩa
vụ cho người chuyển tải sản phẩm quảng cáo phải xác minh độ tin cậy của người
quảng cáo, kiểm tra tài liệu liên quan đến sản phẩm và không giới thiệu sản phẩm
nếu chưa sử dụng hoặc chưa hiểu rõ; đồng thời, Điều 23 yêu cầu quảng cáo trên mạng
có dấu hiệu nhận diện rõ ràng. Nếu thương hiệu trả tiền cho nội dung “gia đình
hạnh phúc”, họ có cần kiểm tra xem những người thân trong đó đã đồng ý chưa?
Một số nước
đã đi trước trong việc đặt tên cho vấn đề này. Pháp có luật năm 2020 về khai
thác thương mại hình ảnh trẻ em dưới 16 tuổi trên nền tảng trực tuyến, đặt trẻ
em làm nội dung mạng gần hơn với cơ chế bảo vệ trẻ em trong ngành biểu diễn và
ghi nhận các quyền như “quyền được lãng quên”. Năm 2024, Pháp tiếp tục sửa luật
để bảo vệ quyền hình ảnh của trẻ em, yêu cầu cha mẹ cùng bảo vệ quyền này và
cho phép thẩm phán can thiệp trong một số trường hợp.
Ở Mỹ,
Illinois là bang đầu tiên từ năm 2024 yêu cầu người làm vlog dành một phần thu
nhập cho trẻ dưới 16 tuổi nếu trẻ xuất hiện đáng kể trong nội dung kiếm tiền.
California cũng mở rộng tinh thần luật năm 2025 bảo vệ diễn viên nhí sang trẻ
em xuất hiện trên TikTok, Instagram, YouTube, buộc cha mẹ hoặc người giám hộ lập
quỹ ủy thác và theo dõi thời lượng, doanh thu liên quan đến sự xuất hiện của trẻ.
Việt Nam
không nhất thiết phải sao chép mô hình của Pháp hay Mỹ, nhưng nên học cách họ đặt
câu hỏi. Họ không cấm cha mẹ yêu con, không cấm gia đình chia sẻ niềm vui, cũng
không biến mọi video có trẻ em thành vi phạm. Họ chỉ tách ra một ranh giới quan
trọng: khi tình thân bị khai thác để kiếm tiền, trẻ em và người thân không còn
là “bối cảnh” nữa, mà là những chủ thể có quyền.
Cao trào của
một video gia đình thường là khoảnh khắc rất đẹp, như cha khóc khi con chào đời,
mẹ ôm con sau một lần mắc lỗi, vợ chồng làm hòa sau cãi vã, ông bà rưng rưng
trước món quà. Nhưng cao trào thật, nếu có, thường đến muộn hơn nhiều. Nó đến
vào năm đứa trẻ 18 tuổi, gõ tên mình lên mạng và phát hiện tuổi thơ đã được lưu
trữ trong hàng nghìn đoạn clip mà nó chưa từng đủ năng lực để đồng ý. Nó đến
khi một cuộc hôn nhân tan vỡ và một bên nhận ra gương mặt mình vẫn được dùng để
bán hình ảnh tử tế của bên kia. Nó đến khi một người mẹ già đã qua đời, nhưng
hình ảnh bệnh tật, nước mắt và lời trăn trối của bà vẫn được cắt ghép trong các
video tưởng niệm kèm quảng cáo.
Khi ấy,
câu hỏi không còn là video này có bao nhiêu lượt xem, mà là ai đã cho phép
chúng ta bán ký ức của người khác?
Trước khi
chờ một đạo luật riêng cho “người ảnh hưởng gia đình”, xã hội có thể bắt đầu bằng
vài nguyên tắc tối thiểu ví dụ như người thân xuất hiện thường xuyên trong nội
dung có doanh thu phải có sự đồng ý rõ ràng về phạm vi, thời hạn, nền tảng sử dụng
và quyền yêu cầu gỡ bỏ; trẻ em xuất hiện trong nội dung kiếm tiền phải có phần
lợi ích được tách riêng cho trẻ; và những vùng như cảnh trẻ tắm, khóc lóc, bị
phạt, hồ sơ bệnh tật, kết quả học tập, địa chỉ trường lớp, mâu thuẫn ly hôn,
chi tiết riêng tư của cha mẹ già không nên bị công khai.
Người nổi
tiếng thường nói rằng họ chỉ muốn lan tỏa năng lượng tích cực. Tôi tin nhiều
người thật lòng, nhưng năng lượng tích cực không thể được xây dựng trên việc
quyền im lặng của người khác bị xâm phạm.
Gia đình vốn
là nơi con người trở về khi mệt mỏi với sân khấu. Nếu chính gia đình cũng là
sân khấu, người nổi tiếng rồi sẽ còn nơi nào để thật sự trở về?
Có lẽ câu
hỏi khó nhất không phải là luật sẽ cấm đến đâu, mà là trong một thời đại mọi thứ
riêng tư đều có thể biến thành nội dung, chúng ta còn đủ tỉnh táo để giữ lại
cho người thân một khoảng đời không có khán giả hay không.
Bài viết này của tôi được viết dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã học, cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé : www.phuoc-partner.com. Cảm ơn bạn rất nhiều.