Khi đám cưới trở thành thói quen xã
hội
Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty
luật Phuoc & Partners
Tôi cũng đã
đến cái tuổi mà thiệp cưới đôi khi đến nhiều hơn thiệp chúc Tết, có tuần mở cặp
ra thấy hai ba tấm thiệp, có tuần lại thêm một tấm kèm lời nhắn rất vui vẻ rằng
anh chị ráng sắp xếp đến chung vui nha, đọc xong vẫn thấy vui vì cưới xin là
chuyện đẹp, nhưng cái vui ấy càng lúc càng hay đi kèm với một tiếng thở dài rất
khẽ, giống như mình vừa được mời dự một niềm hạnh phúc, vừa được nhắc nhẹ về một
khoản chi không nhỏ trong tháng và một buổi tối sẽ đi theo một kịch bản quen
thuộc. Do đó, dạo gần đây, tôi thường nhờ người gửi tiền mừng cưới giúp chứ ít
khi đi dự tiệc cưới như trước vì cảm thấy nhạt và không còn hứng thú nữa.
Đám cưới ở
nhiều nơi bây giờ không còn đơn thuần là bữa tiệc mừng đôi trẻ, mà giống một dự
án tổ chức sự kiện có quy trình, có các gói dịch vụ, có màn hình, có âm thanh
ánh sáng, có quay chụp, có MC, có cả những điểm nhấn để lên hình cho đẹp, và
quan trọng nhất là có danh sách khách mời dài đến mức đôi khi người trong cuộc
cũng không chắc mình đang chào ai. Tôi từng chứng kiến cảnh cô dâu chú rể đứng ở
cổng nhà hàng tiệc cưới, nụ cười vẫn rất chuẩn mực, nhưng ánh mắt thì giống như
đang lục lại trí nhớ cấp tốc, có người bước vào bắt tay chúc tụng xong quay đi,
đôi trẻ quay sang hỏi nhỏ nhau người này là ai, có lần còn hỏi luôn ba mẹ, ba mẹ
cũng ngập ngừng, cuối cùng đành cười trừ vì trong một sảnh tiệc đông đúc, cười
trừ đôi khi là cách lịch sự nhất để thoát khỏi sự lúng túng.
Nếu chỉ
nhìn vậy rồi kết luận rằng người ta sống hình thức, rằng xã hội bây giờ ai cũng
thích phô trương, thì có lẽ hơi dễ dãi, vì tôi hiểu phía sau một danh sách dài
thường là cả một mạng lưới quan hệ và cả một nỗi lo rất Việt Nam. Được mời thì
ngán vì nhạt và tốn tiền, nhưng không được mời thì giận, giận theo kiểu mình bị
ra rìa, bị xem nhẹ, bị cắt khỏi vòng thân tình, và cái giận ấy đôi khi còn nặng
hơn cả niềm vui khi được mời. Thành ra nhiều gia đình phải đứng giữa hai cơn
sóng, mời ít thì sợ mất lòng, còn mời nhiều thì chính mình mệt, khách cũng mệt.
Nhưng vì sợ nên người ta thường chọn an toàn, mà an toàn trong văn hóa này thường
có nghĩa là mời rộng, mời dày, mời cho khỏi ai nói ra nói vào, mời để khỏi phải
giải thích, mời để giữ cái hòa khí vốn mong manh.
Danh sách
vì thế phình ra không hẳn do đôi trẻ mong muốn, mà nhiều khi do ba mẹ, anh chị
em, họ hàng, do những vòng quan hệ chồng lên nhau. Bạn của ba mẹ mời thêm bạn của
họ, anh chị em mời thêm đồng nghiệp của họ, người này bảo mời giúp cho vui, người
kia bảo lỡ gặp ngoài đường khó xử, và thế là quả bóng danh sách cứ lăn, càng
lăn càng to, đến lúc tiệc diễn ra thì cô dâu chú rể bỗng trở thành nhân vật
chính của một sân khấu mà mình không còn kiểm soát nổi khán giả.
Càng đông,
đám cưới càng loãng, loãng đến mức khách và người lạ đôi khi ngồi lẫn vào nhau,
loãng đến mức khách mời có khi bị xếp vào một bàn không quen biết ai, ngồi lạc
lõng với vài câu xã giao rồi ai nấy lại trôi vào điện thoại, loãng đến mức cô
dâu chú rể đi từng bàn chào mà cũng chỉ đủ sức cười cho đúng phép, vì các em mệt
và vì thật ra các em cũng không chắc ai đang ngồi trước mặt mình. Rồi kịch bản
quen thuộc lại chạy, mở màn một hai tiết mục múa hát, ra mắt, khui rượu, nâng
ly, cảm ơn, nhập tiệc, MC nói trôi chảy mà nghe như thuộc lòng, thời giờ cao su
vì đủ lý do như kẹt xe, hư xe, bận việc gấp, khách quan trọng chưa đến, và sau
đó là màn giao lưu ca hát hên xui, có người hát rất hay, có người hát trật nhịp
sai lời, âm thanh chói tai, khói thuốc bay khắp nơi dù đã nhắc cấm hút thuốc. Tất
cả cộng lại khiến người đi dự nhiều lần bắt đầu thấy ngán vì mọi thứ giống
nhau, mà ngán thì không phải vì thiếu thiện cảm với đôi trẻ, mà vì cái khuôn đã
làm cảm xúc mòn đi.
Ở Việt Nam
còn có một lớp mệt khác, đó là nhiều đám cưới không dừng ở một tiệc, nhất là
khi cô dâu chú rể là người ở hai quê khác nhau, hoặc cả hai lên thành phố làm
việc, thế là có thể thành hai hoặc ba tiệc, vu quy ở quê nhà gái, tân hôn ở quê
nhà trai, rồi thêm một tiệc ở thành phố cho bạn bè đồng nghiệp. Mỗi tiệc đều có
lý do hợp tình, nhưng cộng lại thì đôi trẻ thành ra chạy show, khách mời thành
chạy lịch, có người còn phải chạy sô vì trùng ngày đẹp của nhiều cặp, ghé đám
này một chút rồi sang đám kia, kịp bắt tay gửi phong bì chụp tấm hình uống ly
nước rồi xin phép, và khi phải chạy sô như vậy thì rõ ràng niềm vui đã bị ép
thành một nhiệm vụ lịch sự.
Trong bối
cảnh đó, nếu chỉ nói một câu rằng thôi mời ít đi là xong, thì lại đơn giản hóa
một câu chuyện có quá nhiều sợi dây văn hóa và tình nghĩa. Tôi nghĩ cần một
cách làm tinh tế hơn để vừa giữ được sự tử tế, vừa giảm áp lực mời vô tội vạ,
và một trong những cách nhẹ nhàng nhất là tách bạch rõ giữa mời dự tiệc và báo
tin vui. Nghĩa là những người thật sự thân, những người mình muốn ngồi cùng bàn
để trò chuyện và cười với nhau, thì mời dự tiệc. Còn những người quen biết, những
mối quan hệ xã giao, những người từng gặp và vẫn quý nhau nhưng chưa đến mức
thân thiết, thì báo hỷ.
Báo hỷ có
thể làm rất văn minh và không hề kém lịch sự. Có thể gửi một tấm thiệp báo hỷ
ghi rõ đây là tin vui để mọi người biết, kèm lời cảm ơn vì tình cảm, không nhất
thiết phải ghi địa điểm bàn tiệc. Cũng có thể đăng một bài trên Facebook hay
các mạng xã hội, viết vài dòng giản dị về ngày cưới, cảm ơn mọi người đã đồng
hành, để bạn bè và người quen biết tin vui, ai chúc thì mình nhận lời chúc, ai
bận thì cũng không áy náy, ai muốn gửi quà hay gửi lời mừng thì tùy tâm, nhưng
mình không biến họ thành khách mời bắt buộc phải có mặt. Cách này vừa giúp đôi
trẻ đỡ áp lực, vừa giúp những người quen không rơi vào cảm giác bị bỏ quên, và
quan trọng hơn, nó đặt lại ranh giới rất cần thiết giữa thân thiết và xã giao
trong một xã hội đang ngày càng đông mối quan hệ.
Tôi biết sẽ
có người lo rằng việc báo hỷ kiểu đó liệu có bị hiểu là keo kiệt hay cắt tình
nghĩa không. Nhưng nếu mình viết và nói bằng thái độ tử tế, nếu mình làm rõ rằng
mình muốn một bữa tiệc ấm để có thời gian thật sự ngồi với nhau, còn với những
người quý mến nhưng không tiện mời vì giới hạn chỗ ngồi, mình vẫn trân trọng
nên muốn báo tin, thì đa số người trưởng thành sẽ hiểu. Sự trưởng thành của
khách mời cũng quan trọng không kém, vì nếu chúng ta vẫn giữ tâm lý không được
mời thì giận, thì mọi gia đình sẽ mãi sống trong nỗi sợ mất lòng, và danh sách
sẽ vẫn mãi phình ra như phản xạ. Khi nhiều người chấp nhận rằng không được mời
không có nghĩa là bị xem thường, đôi trẻ mới có không gian để tổ chức ngày của
mình đúng nghĩa.
Thật tình
tôi vẫn thích đám cưới, tôi vẫn thấy khoảnh khắc cô dâu chú rể nhìn nhau rất đẹp,
dù sân khấu lớn hay nhỏ, tôi vẫn thấy cha mẹ rưng rưng cũng đẹp, dù đãi tiệc ở
đâu, và tôi vẫn tin cộng đồng của mình có nhiều tình nghĩa. Chỉ là tôi mong
tình nghĩa ấy bớt bị kéo vào nỗi sợ người ta nói, bớt bị kéo vào áp lực phải mời
cho đủ, để đám cưới trở lại đúng vai trò của nó, là một bữa tiệc mừng một khởi
đầu, đủ ấm để nhớ, đủ gọn để nhẹ, đủ thật để người ta muốn ở lại trò chuyện, chứ
không phải chỉ đến chấm công rồi chạy sô sang sảnh khác. Cuối cùng, mọi thứ có
lẽ đều quay về chữ vừa, đó là vừa với túi tiền, vừa với sức mình, vừa với mức độ
thân quen, vừa với lòng tự trọng, vì hạnh phúc vốn đã khó, xin đừng làm nó khó
thêm chỉ vì sợ một bữa tiệc không đủ hoành tráng trong mắt người khác.
Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.



.jpg)


