Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Một căn nhà, hai nỗi mệt và một điều không ai nói ra

 

Một căn nhà, hai nỗi mệt và một điều không ai nói ra

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước)

Tôi đã thuê người giúp việc không dưới vài chục lần trong hơn 20 năm qua. Con số đó không phải để khoe trải nghiệm, mà để thú nhận một điều hơi buồn. Tôi đã nhiều lần đi tìm một công thức bình yên cho căn nhà, và mỗi lần tưởng như nắm được rồi lại tuột mất. Thuê người giúp việc không giống thuê một dịch vụ. Nó giống như bước vào một mối quan hệ sống chung, mà sống chung thì có phần người, phần kỳ vọng, phần ranh giới và phần im lặng. Người ngoài thường nghĩ nỗi khổ luôn nằm ở phía người giúp việc vì họ vất vả. Đúng là vất vả thiệt, nhưng chủ nhà cũng có cái khổ rất riêng. Khổ kiểu không dám than vì sợ mang tiếng có điều kiện mà còn kêu ca, khổ kiểu vừa trả tiền vừa ngại mở miệng, khổ kiểu sống trong nhà của mình mà phải cân đo từng câu như đang họp đối tác. Càng thuê nhiều lần, tôi càng thấy cái khó nhất không nằm ở chỗ ai đúng ai sai, mà nằm ở chỗ cả hai đều là người, đều mệt, và đều đang cố giữ cho đời mình khỏi rơi.

Nỗi khổ đầu tiên là niềm tin vì nhà không phải văn phòng. Ở đó có thói quen, bí mật, giấy tờ, trẻ con, người già, và những thứ mình không muốn giải thích. Tôi từng chứng kiến cảnh người giúp việc lau bàn làm việc vô tình gạt một xấp giấy quan trọng rơi xuống rồi xếp lại sai thứ tự. Chuyện nghe nhỏ, nhưng với người làm nghề luật như tôi, thứ tự đôi khi là cả một vụ việc và thế là tôi bắt đầu cẩn trọng. Tôi không dám để laptop trên bàn, không dám để giấy tờ ở kệ mở, không dám bỏ chìa khóa xe quá lộ liễu. Người ngoài có thể gọi đó là đa nghi, còn tôi gọi đó là bệnh nghề nghiệp kéo dài vào đời sống. Và nỗi lo ấy khiến căn nhà đôi khi không còn là nơi thả lỏng.



Nhưng nếu đứng về phía người giúp việc, tôi lại thấy họ cũng khổ vì niềm tin. Họ bước vào nhà người khác với cảm giác bị soi vì mỗi cái ly đặt lệch, mỗi vệt nước trên bếp, mỗi chiếc áo treo chưa đúng móc đều có thể bị đánh giá. Tôi từng nghe họ nói sợ nhất là chủ nhà im lặng, vì im lặng nghĩa là đang khó chịu. Mà trong công việc này, khó chịu có thể đồng nghĩa với ngày mai bị cho nghỉ việc. Có những người giúp việc làm trong một căn nhà đẹp, nhưng tâm lý lại như đi trên sàn kính, sợ trượt, sợ vỡ, sợ một câu nói lạnh lùng.

Rồi lại đến “kỳ vọng” vì việc nhà là thứ không có đáy. Hôm nay lau nhà, ngày mai lau kính, giặt đồ, nấu cơm, đón con, ngày kia phát sinh khách khứa, chén bát tăng gấp đôi, bếp kéo dài đến khuya. Chủ nhà nhìn thấy một căn nhà cần vận hành, còn người giúp việc lại nhìn thấy một danh sách vô hạn. Hai bên đều có lý, và vì đều có lý nên mâu thuẫn dễ xảy ra.

Ở đây có người nói rằng chủ nhà trả tiền thì có quyền đòi hỏi. Đúng, chủ nhà có quyền nhưng đòi hỏi theo kiểu rõ ràng, tôn trọng, có giới hạn thì là quyền chính đáng. Còn đòi hỏi theo kiểu hôm nay thích thế này, mai đổi thế kia, hôm kia lại bảo sao chưa tự biết, thì không còn là quyền mà là sự tùy tiện. Mà tùy tiện, trong một mối quan hệ sống chung, là thứ làm người ta mệt và làm tình cảm bị bào mòn.

Tôi từng nghĩ giải pháp là phải làm bài bản ngay từ đầu, đưa cho người giúp việc một bảng mô tả công việc rõ ràng. Nhưng đời lại có nghịch lý của riêng nó vì nhiều người giúp việc thấy tờ giấy ấy là sợ, vì họ nhìn nó như một tờ nội quy. Chưa đọc hết đã thấy ngợp, thấy mình bị trói bởi quy định, thấy mình bước vào một nơi mà từng hành động nhỏ cũng có thể bị chấm điểm. Có người cười gượng rồi nói để em về suy nghĩ thêm, cũng có người im lặng rồi hôm sau không tới nữa. Tôi bối rối và tự hỏi mình muốn rõ ràng để đỡ mệt về sau, mà lại vô tình làm người ta chùn bước ngay từ đầu.

Nhưng nếu không đưa mà chỉ nói miệng, vừa làm vừa chỉnh, thì lại rơi vào vòng luẩn quẩn của hiểu lầm. Mình tưởng người giúp việc hiểu, còn họ lại tưởng mình dễ. Mình nhắc nhiều lần thì bị xem khó tính, còn không nhắc thì trong lòng ấm ức và ở đây chính là cái khổ của chủ nhà. Muốn tử tế mà vẫn phải quản trị, muốn công bằng mà lại sợ mang tiếng tính toán, muốn nhà yên mà lại phải tốn năng lượng vào những thứ lẽ ra không đáng tốn.

Ranh giới giữa tình và tiền là nỗi khổ kế tiếp, và đây cũng là cái bẫy ngọt ngào nhất. Chủ nhà thương, người giúp việc cũng thương, rồi cái thương đó biến thành kỳ vọng. Chủ nhà nghĩ mình tốt thì người giúp việc sẽ tự hiểu mà làm thêm chút. Người giúp việc lại nghĩ mình đã làm thêm thì chủ sẽ tự hiểu mà tăng thêm chút lương. Hai cái tự hiểu ấy đi ngang nhau, và thế là không ai hiểu ai.

Tôi đã trải qua chuyện ứng lương. Người giúp việc xin ứng vì quê có việc, mình gật rồi lần sau lại xin ứng, mình lại gật. Có lúc tôi không còn nhớ mình đang trả lương hay đang cứu trợ định kỳ. Nói ra thì ngại, nhưng không nói thì trong lòng chật lại. Còn người giúp việc, họ cũng có nỗi khổ rất thật. Nghèo không chỉ là thiếu tiền tháng này, mà là luôn có một cái hố ở quê chờ mình lấp. Con đi học, bố mẹ bệnh, mái nhà dột, thuốc men, giỗ chạp. Chủ nhà nhìn thấy một khoản ứng, nhưng người giúp việc nhìn thấy một phép thở để sống tiếp. Nếu không đặt mình vào nhau một chút, rất dễ kết luận rằng bên kia tham hoặc bên kia keo, trong khi nhiều khi chỉ vì bên nào cũng đang chật vật theo cách khác.

Sự khác biệt về nếp sống lại tạo thêm va đập. Cái bàn ăn nhà tôi cần sạch theo kiểu nhìn vào là muốn ngồi xuống, nhưng có người giúp việc lại lau theo kiểu cảm giác sạch là được. Hai định nghĩa khác nhau, và không ai nghĩ mình sai. Tôi góp ý thì họ nghe, nhưng làm vài hôm họ lại trở về thói quen cũ. Tôi thấy mình dần giống như một người quản lý khó tính, còn họ thấy tôi dần giống như một người chủ soi mói. Cả hai đều không muốn trở thành nhân vật đó, nhưng hoàn cảnh đẩy tới.

Rồi có một chuyện khiến tôi vừa bực vừa thương, đó là chuyện điện thoại. Nhiều người giúp việc nói chuyện bằng loa ngoài, âm lượng như đang họp nhóm. Cả nhà nghe trọn vẹn câu chuyện của bên kia, từ chuyện thiếu tiền, con cái, hàng xóm, ruộng vườn, cho đến chuyện ai giận ai, ai cãi ai, ai bệnh. Có hôm tôi đang làm việc mà trong nhà vang lên tiếng kể lể, tiếng thở dài, tiếng trách móc và tôi cảm thấy nhà mình bỗng thành một sân khấu không mua vé. Tôi khó chịu không phải vì ghét họ, mà vì sự ồn ào ấy kéo cả căn nhà ra khỏi nhịp riêng của nó.

Nhắc thì ngại, nhưng không nhắc thì không chịu nổi. Và cái làm tôi mềm lòng nhất lại là khi tôi hỏi thăm họ một câu rất bình thường, thì cánh cửa tâm tư mở ra như nước tràn. Họ kể cả ngày chưa hết về gia cảnh. Kể không phải để làm phiền, mà vì trong đời họ có ít người để kể. Chủ nhà hỏi thăm một chút, họ xem đó là một cái phao và cũng là nơi xả căng thẳng. Và khi đã bám vào phao, họ bám rất chặt, như sợ buông ra thì lại chìm.

Ở đây tôi nhìn thấy một điều khiến mình lặng đi. Nhiều người giúp việc không xem công việc này là nghề, mà là nghiệp họ phải nhận lấy. Không phải nghĩa mê tín, mà là cảm giác đời họ bị xô vào một công việc không ai mơ ước từ nhỏ. Không ai lớn lên rồi nói con muốn làm người giúp việc. Họ làm vì ruộng vườn không đủ, quê ít việc, con cần tiền học, nhà cần tiền thuốc. Họ sống trong mặc cảm âm thầm rằng mình đang làm việc, ăn cơm, nghỉ ngơi, nghe tiếng cười trong gia đình người khác. Và mặc cảm ấy đôi khi biến thành sự im lặng chịu đựng, hoặc thành nói rất nhiều, như để chứng minh rằng họ cũng có đời sống, câu chuyện, nỗi đau, chứ không phải chỉ là một đôi tay lau nhà.

Cao trào thường không đến từ chuyện to mà nó đến từ sự tích tụ những chuyện nhỏ. Một lần trễ giờ, một lần quên tắt bếp, một lần nói điện thoại quá lâu, hay một lần làm rơi cái chén. Rồi đến một ngày, một chuyện nhỏ chạm đúng dây thần kinh mệt mỏi của chủ nhà, và chủ nhà nói một câu quá tay. Hoặc một câu nhắc nhở lại chạm đúng mặc cảm của người giúp việc, và họ im lặng, thu dọn đồ rồi xin nghỉ.

Tôi đã từng trải qua một buổi tối như thế. Nhà có khách đến bất ngờ, tôi về muộn, còn người giúp việc cũng mệt vì cả ngày phải nấu nướng phục vụ khách và xoay xở thay tôi. Tôi bước vào nhà, thấy căn bếp lộn xộn, cái thớt còn dính mùi cá, cái nồi để quên chưa ngâm. Tôi không nén được, nói một câu kiểu như em làm vậy sao được. Tôi không chửi, nhưng giọng tôi lạnh và cái lạnh đó mới đáng sợ. Người giúp việc đứng yên, rồi nói nhỏ anh ơi em cũng là người. Câu đó như tạt nước vào mặt làm tôi đứng sững, vì đúng. Họ là người và tôi cũng là người và cả hai người đều mệt gặp nhau, ai cũng nghĩ mình đang gánh nhiều hơn.

Đêm đó tôi không ngủ được. Không phải vì cái thớt, mà vì tôi nhận ra rằng căn nhà, cái nơi tôi muốn bình yên nhất, lại có thể trở thành nơi mình vô tình làm người khác tổn thương. Và nếu muốn công bằng, tôi cũng phải nói thẳng để khỏi bị phản biện một chiều. Tôi đã gặp những người giúp việc thiếu trung thực, có người làm cẩu thả, có người bỏ việc đột ngột. Tôi đã phải thay người, không phải vì tôi thích, mà vì tôi không thể đặt sự an toàn của gia đình vào một cuộc thử nghiệm. Nhưng nếu chỉ dừng ở chuyện bên kia sai, thì mọi thứ sẽ trở thành một vòng lặp cay đắng. Trong một thị trường thiếu đào tạo bài bản cho công việc chăm sóc gia đình, trong bối cảnh người giúp việc đến từ những vùng quê ít cơ hội, còn chủ nhà sống trong nhịp đô thị căng và nhanh, thứ thiếu nhất không hẳn là thiện chí, mà là một chuẩn mực chung và một cách làm văn minh. Để người giúp việc có thể xem đây là một nghề đích thực, còn chủ nhà có thể an tâm trong chính căn nhà của mình.

Tôi bắt đầu hóa giải mọi thứ bằng một cách làm rõ ràng nhưng không làm người ta sợ. Vẫn cần một bảng mô tả công việc, nhưng không đưa như nội quy mà đưa như một lời hẹn. Tôi cũng không đưa tất cả ngay ngày đầu mà chỉ đưa những thứ cốt lõi trước như giờ giấc, việc chính, việc liên quan đến trẻ con, các nguyên tắc an toàn trong bếp, các nguyên tắc về riêng tư. Còn những thứ lặt vặt thì vừa làm vừa thống nhất. Như vậy người giúp việc không bị choáng, và chủ nhà cũng không ảo tưởng rằng viết ra là xong, vì sống chung luôn là một quá trình.

Tôi tập góp ý theo kiểu hướng dẫn hơn là phán xét. Nói cụ thể, nói một việc một lần, nói kèm lý do, và cố gắng không dùng giọng lạnh lùng và một nụ cười khẽ trên môi. Tôi cũng học cách khen đúng lúc, không phải để lấy lòng, mà để công nhận công sức. Người giúp việc sống bằng lương, nhưng nhiều khi họ ở lại vì cảm giác được tôn trọng.

Tôi cũng cho họ quyền được nói. Nếu có việc riêng thì báo sớm, nếu mệt thì nói, còn nếu thấy việc quá tải thì nói để sắp xếp lại. Khi họ được phép nói, họ sẽ bớt phải đánh cược bằng cách im lặng rồi nghỉ đột ngột. Chuyện điện thoại cũng vậy, tôi thống nhất như một thói quen chung, chứ không phải một sự cấm đoán. Trong nhà có lúc tôi làm việc nên cần yên tĩnh, vậy thì em nói nhỏ, không mở loa ngoài, hoặc nói ở khu vực nào đó. Tôi cũng tự nhắc mình rằng đôi khi cho họ mười phút trút ra còn rẻ hơn một tháng mình khó chịu. Nhưng nghe cũng phải có ranh giới. Nghe một đoạn, hỏi một câu gọn, rồi chốt lại rằng anh hiểu, em giữ sức, còn giờ anh cần yên tỉnh để làm việc. Ranh giới không làm người ta lạnh đi mà ranh giới giúp cả hai không bị ngộp.

Và quan trọng hơn hết là ranh giới của sự riêng tư. Khu vực nào không vào khi không cần. Thời điểm nào gia đình cần riêng, chuyện nào không đưa ra ngoài. Chủ nhà muốn riêng tư, người giúp việc cũng muốn danh dự. Ranh giới mà rõ, cả hai đều được bảo vệ, và sự nghi ngờ cũng bớt có đất sống.

Tôi không dám nói mình đã giải được bài toán khó nhằn này. Tôi chỉ biết có lần tôi ngồi xuống, xin lỗi người giúp việc vì giọng điệu mình hôm trước, rồi hỏi rằng em thấy cách làm nào hợp hơn để cả hai đỡ mệt không. Họ im một lúc rồi nói anh bớt la em trước mặt người khác là được và tôi gật. Tôi cũng nói lại rằng em báo trước nếu có việc về quê, đừng để anh rơi vào cảnh trở tay không kịp và họ cũng gật. Từ đó mọi thứ không hoàn hảo, nhưng êm hơn. Nhà không còn là nơi hai người mệt mỏi làm nhau tổn thương, mà là nơi cả hai cố giữ một trật tự tối thiểu để thở.

Sau hàng chục lần thuê người giúp việc, câu hỏi còn đọng lại trong tôi không phải là làm sao để có người hoàn hảo. Câu hỏi là khi thuê người giúp việc, chúng ta đang thuê công việc hay đang mượn một phần đời của người khác để đời mình vận hành. Nếu đúng là mình đang mượn một phần đời của họ, thì hãy đối xử với phần đời ấy thế nào để vừa giữ được nề nếp gia đình mình, vừa không làm người kia cảm thấy mình đang sống một kiếp nghiệp trong căn nhà xa lạ.

Có những thứ không thể giải bằng tiền, và cũng có những thứ không thể giải chỉ bằng lòng tốt. Có lẽ nó cần một thứ khó hơn cả hai, đó là tôn trọng đi kèm ranh giới. Tôn trọng để người ta thấy mình là người, và ranh giới để cả hai không làm nhau kiệt sức. Tôi vẫn đang học điều đó từng ngày, và có lẽ rất nhiều gia đình thành phố cũng đang học mỗi ngày, trong âm thầm, giữa tiếng chén bát, tiếng trẻ con, và những cuộc điện thoại bật loa ngoài đôi khi dài hơn cả một buổi chiều.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.

 

Học nghề, tập nghề và thực tập tại doanh nghiệp: ranh giới giữa “đào tạo” và “lao động có trả lương”

  Học nghề, tập nghề và thực tập tại doanh nghiệp: ranh giới giữa “đào tạo” và “lao động có trả lương” (Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty ...